Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ là đoạn trích Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn (bản diễn Nôm song thất lục bát), từng học trong Ngữ văn 10 chương trình cũ và nay có trong sách Ngữ văn 9 Cánh diều (Bài 1). Bài viết tổng hợp thông tin tác giả, dịch giả, hoàn cảnh ra đời, vị trí và bố cục đoạn trích, những điểm đặc sắc về nội dung, nghệ thuật cùng sơ đồ tư duy.
Nội dung văn bản Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ
Hai bộ sách trích hai đoạn khác nhau của khúc ngâm, có tám câu trùng nhau. Dưới đây là nội dung chính của từng đoạn kèm những câu thơ tiêu biểu.

Đoạn trích trong SGK Ngữ văn 10 cũ (24 câu, câu 193 – 216). Người chinh phụ một mình dạo hiên vắng, buông rồi lại cuốn rèm, ngóng tin chim thước mà chẳng thấy. Trong đêm, nàng chỉ biết tâm sự với ngọn đèn rồi tự nhận ra đèn cũng chẳng hiểu mình. Tiếng gà canh năm, bóng hòe phất phơ, thời gian kéo dài vô tận; nàng gượng đốt hương, gượng soi gương, gượng gảy đàn mà lòng càng thêm rối bời. Tám câu cuối là nỗi nhớ chồng gửi theo gió đông tới non Yên xa thẳm:
Lòng này gửi gió đông có tiện?
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên.
Non Yên dù chẳng tới miền,
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời.
Đoạn trích trong sách Cánh diều 9 (20 câu). Đoạn bắt đầu bằng chính tám câu nhớ chồng ở trên, tiếp đó là cảnh đêm lạnh lẽo, tàn tạ phản chiếu nỗi cô đơn và kết thúc bằng hình ảnh hoa – nguyệt quấn quýt:
Hoa dãi nguyệt, nguyệt in một tấm,
Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông.
Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng,
Trước hoa dưới nguyệt, trong lòng xiết đâu!
Em nên đọc trọn đoạn trích trong sách đang học, vì các bản Chinh phụ ngâm lưu hành có nhiều chữ khác nhau.
Thông tin tác giả Đặng Trần Côn và dịch giả
Đặng Trần Côn sống vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII, đến nay chưa xác định được năm sinh, năm mất. Quê ông là làng Nhân Mục, dân gian quen gọi làng Mọc, xưa thuộc Thanh Trì, nay là đất quận Thanh Xuân, Hà Nội. Ông nổi tiếng học giỏi; đầu thời Cảnh Hưng làm huấn đạo, sau làm tri huyện, cuối đời giữ chức Ngự sử đài chiếu khám.
Ngoài Chinh phụ ngâm viết bằng chữ Hán, Đặng Trần Côn còn để lại một số bài thơ, bài phú chữ Hán. Chinh phụ ngâm vừa ra đời đã được giới nho sĩ đương thời rất trân trọng, nhiều người dịch ra chữ Nôm.
Bản diễn Nôm theo thể song thất lục bát phổ biến nhất (bản được dùng trong sách giáo khoa) lâu nay được ghi là của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm (1705 – 1746 hoặc 1748), người làng Giai Phạm, huyện Văn Giang, xứ Kinh Bắc (nay thuộc Hưng Yên); một số nhà nghiên cứu lại cho rằng bản dịch là của Phan Huy Ích. Dù ai là dịch giả, bản Nôm vẫn được coi là một kiệt tác của văn học trung đại. Tìm hiểu thêm ở bài Nhà thơ Đặng Trần Côn và câu hỏi về bản dịch.
Thông tin tác phẩm Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ
Hoàn cảnh sáng tác Chinh phụ ngâm
Đầu đời vua Lê Hiển Tông (niên hiệu Cảnh Hưng), nông dân nổi dậy ở khắp nơi, triều đình liên tục điều quân đánh dẹp. Trai tráng bị bắt đi lính, nhiều gia đình ly tán. Cảm động trước nỗi khổ của con người thời loạn, nhất là những người vợ có chồng ra trận, Đặng Trần Côn đã viết Chinh phụ ngâm.
Đoạn trích nằm ở đâu?
- Sách Ngữ văn 10 cũ: từ câu 193 đến câu 216 của bản diễn Nôm, thuộc phần người chinh phụ một mình ở nhà sau khi tiễn chồng đi.
- Sách Cánh diều 9: 20 câu, mở đầu bằng câu “Lòng này gửi gió đông có tiện?”, tiếp nối ngay sau phần nói về những việc làm gượng gạo của người chinh phụ.
Thể loại, phương thức biểu đạt
- Thể loại: ngâm khúc. Nguyên tác chữ Hán viết theo thể trường đoản cú; bản diễn Nôm theo thể song thất lục bát.
- Phương thức biểu đạt: chủ yếu là biểu cảm, có kết hợp miêu tả.
- Nhân vật trữ tình: người chinh phụ, tự giãi bày tâm trạng bằng lời độc thoại, xưng “thiếp”.
Bố cục Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ có mấy phần?
Theo SGK Ngữ văn 10 cũ (2 phần):
- Phần 1 (16 câu đầu): người chinh phụ lẻ bóng, trống trải trong đêm dài.
- Phần 2 (8 câu cuối): nàng hướng nỗi nhớ về người chồng nơi biên ải.
Theo sách Cánh diều 9 (3 phần):
- Phần 1 (8 câu đầu, đến “tiếng trùng mưa phun”): nỗi nhớ chồng.
- Phần 2 (6 câu tiếp, đến “gió thốc ngoài hiên”): cảnh vật thê lương, nỗi cô đơn.
- Phần 3 (6 câu cuối): hình ảnh hoa – nguyệt và khát vọng hạnh phúc lứa đôi.
Giá trị nội dung
- Ghi lại nhiều cung bậc buồn của người vợ trẻ vắng chồng: ngóng đợi, thao thức, chán chường, nhớ thương.
- Nói lên ước muốn được yêu thương, được sum vầy bên chồng – một khát vọng chính đáng của con người.
- Gián tiếp lên án chiến tranh phong kiến phi nghĩa đã chia lìa vợ chồng; thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc.
Giá trị nghệ thuật
- Bút pháp tả cảnh ngụ tình; khắc họa tâm trạng qua dáng điệu, việc làm và lời độc thoại.
- Biện pháp tu từ đa dạng: điệp ngữ (đặc biệt là điệp vòng), so sánh, ẩn dụ, câu hỏi tu từ, từ láy.
- Ngôn ngữ chọn lọc, giàu nhạc điệu; thể song thất lục bát trầm bổng, phù hợp diễn tả tâm trạng triền miên.
Ý nghĩa nhan đề
Nhan đề do người biên soạn đặt, gói gọn nội dung đoạn trích: hoàn cảnh (“tình cảnh”) và trạng thái tinh thần (“lẻ loi”) của người vợ có chồng đi chinh chiến. Chữ “lẻ loi” vừa chỉ sự một mình về hình bóng, vừa chỉ sự cô độc trong tâm hồn, không ai chia sẻ.
Sơ đồ tư duy Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ
Sơ đồ tóm tắt sáu nội dung cần nhớ.

Lời kết
Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ là một trong những đoạn hay nhất của Chinh phụ ngâm, tiêu biểu cho tài khắc họa tâm trạng của văn học trung đại. Khi ôn tập, em cần nhớ phạm vi đoạn trích ở bộ sách mình học, bố cục, bút pháp tả cảnh ngụ tình và giá trị nhân đạo của khúc ngâm.
Xem thêm: