Soạn bài Gió thanh lay động cành cô trúc hướng dẫn em chuẩn bị và trả lời đầy đủ câu hỏi ở trang 96 – 100, Bài 8 (Văn bản nghị luận), sách Ngữ văn 10 Cánh diều tập hai. Đây là một bài nghị luận văn học của nhà phê bình văn học Chu Văn Sơn, cảm nhận tinh tế bài thơ Thu vịnh của Nguyễn Khuyến và qua đó phác họa chân dung tâm hồn nhà thơ Yên Đổ.
Tìm hiểu chung về văn bản Gió thanh lay động cành cô trúc
Trước khi trả lời câu hỏi, em cần nắm thông tin về tác giả, đối tượng được bàn luận và cách sắp xếp luận điểm trong văn bản.

Tác giả Chu Văn Sơn
Chu Văn Sơn (1962 – 2019), người Thanh Hóa, là nhà giáo, nhà nghiên cứu và phê bình văn học. Ông là giảng viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, bắt đầu từ năm 1984, được nhiều thế hệ sinh viên yêu mến. Văn phê bình của ông không nặng tính hàn lâm mà phóng khoáng, giàu cảm xúc, lời văn mềm mại, lịch lãm, thường đi sâu vào từng chữ để tìm cái hồn của tác phẩm. Ông có các công trình như Ba đỉnh cao Thơ mới (2003), Thơ, điệu hồn và cấu trúc (2007). Trên Văn VN có bài tìm hiểu một văn bản khác của ông: Bản hòa âm ngôn từ trong Tiếng thu (tác giả, tác phẩm).
Xuất xứ, đối tượng bàn luận, bố cục
- Xuất xứ: văn bản trích từ bài viết của Chu Văn Sơn về chùm thơ thu của Nguyễn Khuyến; SGK ghi nguồn Thơ, điệu hồn và cấu trúc, NXB Giáo dục, 2007.
- Thể loại: bài phê bình, thuộc kiểu nghị luận văn học (phân tích, bình giảng một bài thơ).
- Đối tượng: bài thơ Nôm Thu vịnh, cùng Thu ẩm, Thu điếu làm thành chùm thơ thu được yêu thích của Nguyễn Khuyến. Bài Thu điếu (Câu cá mùa thu) em đã đọc ở Bài 2 của sách; có thể xem lại qua bài Thu điếu: tác giả, tác phẩm hoặc Soạn bài Thu điếu.
- Bố cục: năm phần, được đánh số trong văn bản.
- Phần (1): nét riêng của mùa thu và yêu cầu thơ thu phải bắt được thần thái của mùa; dẫn toàn văn bài Thu vịnh.
- Phần (2): hai câu đề – thần thái bầu trời thu.
- Phần (3): hai câu thực – mặt nước và khung cửa đón trăng.
- Phần (4): hai câu luận – không gian, thời gian mở rộng, chứa nỗi niềm thi nhân.
- Phần (5): hai câu kết và đoạn khép lại – chân dung Nguyễn Khuyến như cây cô trúc thanh cao.
Bài thơ Thu vịnh được bàn trong văn bản
Bốn câu đầu (đề và thực):
Trời thu xanh ngắt mấy từng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.
Nước biếc trông như tầng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào.
Bốn câu sau (luận và kết):
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.
Nội dung và nghệ thuật
- Nội dung: qua việc cảm nhận lần lượt từng cặp câu, tác giả chỉ ra vẻ đẹp thanh sơ, trong trẻo của cảnh thu làng quê và nỗi u hoài kín đáo của Nguyễn Khuyến, một nhà nho thanh cao, giữ khí tiết giữa thời buổi nhiễu nhương.
- Nghệ thuật: luận điểm sắp xếp theo trình tự đề – thực – luận – kết; phân tích kĩ từng chữ; kết hợp giải thích, phân tích, so sánh, bình luận; vận dụng kiến thức hội họa, điện ảnh; lời văn giàu hình ảnh, nhiều câu hỏi tu từ đầy chất thơ.
Soạn bài Gió thanh lay động cành cô trúc – Chuẩn bị (trang 96)
Phần Chuẩn bị yêu cầu em xem lại Kiến thức ngữ văn về văn bản nghị luận, đọc trước văn bản và tìm hiểu thêm bài viết về chùm thơ thu.
Câu 1: Đọc trước văn bản và tìm hiểu thêm bài viết về chùm thơ thu Nguyễn Khuyến
Trả lời:
Khi đọc trước, em nên đọc lại cả ba bài Thu điếu, Thu vịnh, Thu ẩm để thấy chúng cùng được viết ở làng Yên Đổ sau khi Nguyễn Khuyến từ quan, cùng một không khí thu đạm, vắng và buồn. Với văn bản trong SGK, hãy đánh dấu năm phần, gạch chân câu nêu ý chính ở đầu mỗi phần và chú ý những chữ trong thơ mà tác giả tách ra để bình (xanh ngắt, cần trúc, lơ phơ, hắt hiu, thưa, năm ngoái, nước nào, thẹn).
Câu 2: Ghi lại điều em thích thú và điều còn băn khoăn
Trả lời:
Gợi ý: điều thú vị là cách người viết đọc thơ rất chậm, mỗi chữ đều được cắt nghĩa, so sánh, tưởng tượng như đang xem một bức tranh. Điều có thể băn khoăn: vì sao nhan đề lại nói tới gió và cây cô trúc, trong khi bài thơ được bàn là cảnh thu? Câu trả lời nằm ở đoạn cuối của văn bản.
Soạn bài Gió thanh lay động cành cô trúc – Câu hỏi trong khi đọc (trang 97 – 99)
Năm câu hỏi bên lề tương ứng với năm phần của văn bản, giúp em theo sát mạch phân tích.
Câu 1: Ở phần (1), tác giả nhắc đến chùm thơ nào? (trang 97)
Trả lời:
Tác giả nhắc đến chùm ba bài thơ thu viết bằng chữ Nôm của Nguyễn Khuyến: Thu điếu (mùa thu câu cá), Thu vịnh (vịnh mùa thu) và Thu ẩm (uống rượu mùa thu). Theo người viết, bài nào trong chùm thơ cũng bắt được thần thái riêng của mùa thu; từ đó ông chọn riêng Thu vịnh để phân tích.
Câu 2: Ở phần (2), tác giả đã nêu và muốn chứng minh với người đọc điều gì? (trang 97)
Trả lời:
Phần (2) nêu nhận định: ngay hai câu mở đầu, Nguyễn Khuyến đã bắt được thần thái của trời thu. Để chứng minh, tác giả phân tích câu thứ nhất dựng nền trời xanh, cao, khoáng đạt; câu thứ hai đưa vào cận cảnh cần trúc và làn gió nhẹ. Thi sĩ lấy chuyển động nhỏ ở gần để làm nổi cái tĩnh mênh mông ở xa, qua đó cho thấy một cảm quan rất tinh tế.
Câu 3: Câu văn, cụm từ cho biết thái độ và cảm xúc của người viết trong phần (3) (trang 97)
Xác định những câu văn, cụm từ cho biết thái độ và cảm xúc của người viết trong phần 3.
Trả lời:
- Lời đánh giá về chữ thưa: “rất không đâu mà thật ăn nhịp”, thể hiện sự thích thú, khâm phục trước một chữ tưởng bình thường mà đắt.
- Việc dẫn ý Xuân Diệu gọi đó là “những điệu xanh” cho thấy người viết say mê sắc màu thanh đạm của bức tranh.
- Các câu hỏi liên tiếp ở cuối đoạn về nét song thu và hình ảnh “vầng trăng tri kỉ” bộc lộ giọng suy tư, đồng cảm, như đang trò chuyện với người đọc.
- Những cụm từ chỉ sự đánh giá như tóm đúng cái thần thái, hòa điệu, ăn nhập cho thấy thái độ trân trọng tài nghệ Nguyễn Khuyến.
Câu 4: Từ ngữ có tính gợi hình, gợi cảm trong phần (4) (trang 98)
Hãy chỉ ra từ ngữ có tính gợi hình, gợi cảm trong phần 4.
Trả lời:
- Gợi hình: hình ảnh chùm hoa bên giậu; tiếng ngỗng từ trời cao rơi xuống; không gian quê kiểng mở ra đến chân trời khác; tiếng cá quẫy dưới nước; tiếng chim di trú trên cao; dáng thi nhân lắng nghe về phía xa xăm.
- Gợi cảm: hoài niệm bâng khuâng; nỗi u hoài; cảm nhận huyền hồ; thi vị hư huyền; thoáng hồ nghi; giây phút thảng thốt; sự xa vắng, tĩnh lặng; thanh vắng, thẳm sâu; và nhận xét tình nồng mà lời đạm.
Những từ ngữ này khiến lời bình cũng giàu chất thơ, giúp người đọc cảm được nỗi buồn mênh mang ẩn sau cảnh thu.
Câu 5: Từ ngữ kết nối ý của phần (5) với các phần trước (trang 98 – 99)
Những từ ngữ nào có tác dụng kết nối ý của phần 5 với các phần trước đó?
Trả lời:
- Cuối cùng: báo hiệu đây là cặp câu khép lại, nối tiếp trình tự đề – thực – luận đã phân tích.
- Tất cả những điều ấy: gom toàn bộ các nhận xét trước đó để đi tới kết luận về chân dung Nguyễn Khuyến.
- Và: nối câu hỏi cuối cùng với các ý vừa nêu, mở rộng sang cả ba bài thơ thu.
- Ngoài ra, cách nhắc lại các chữ lơ phơ, hắt hiu ở câu cuối cũng gợi về phần (2), làm cho văn bản khép kín như một vòng tròn.
Soạn bài Gió thanh lay động cành cô trúc – Câu hỏi sau khi đọc (trang 100)
Sáu câu hỏi sau khi đọc tập trung vào nhan đề, hệ thống luận điểm, thao tác nghị luận, câu văn và yêu cầu nối kết với bài Thu điếu.
Câu 1: Em hiểu như thế nào về nhan đề Gió thanh lay động cành cô trúc? (trang 100)
Trả lời:
- Nghĩa gần: nhan đề gợi lại câu thơ thứ hai của Thu vịnh – làn gió nhẹ đung đưa những cần trúc thưa. Đó là chi tiết tinh tế nhất của cảnh thu mà chỉ người có tâm hồn nhạy cảm mới nhận ra.
- Nghĩa ẩn dụ: cây cô trúc (cây trúc đứng một mình) là hình ảnh của chính Nguyễn Khuyến – nhà nho thanh cao, lánh đời về ở ẩn. Gió thanh là những rung động nhỏ của tạo vật và thời thế vẫn làm tâm hồn ông xao xuyến, trăn trở. Cây trúc ở nơi yên mà lòng không yên.
- Sự triển khai trong bài: phần (2) nói tới làn gió mỏng manh chỉ mĩ cảm tinh tế mới nhận ra và gợi ý rằng chính làn gió ấy từng khiến cây trúc – tâm hồn Nguyễn Khuyến rung động; đoạn cuối trở lại hình ảnh ấy, khẳng định nhà thơ hiện ra như cây cô trúc giữa vườn Bùi. Nhan đề vì thế vừa nói cảnh, vừa nói người.
Câu 2: Các luận điểm và trình tự sắp xếp (trang 100)
Hãy chỉ ra các luận điểm của văn bản Gió thanh lay động cành cô trúc và trình tự sắp xếp chúng.
Trả lời:
| Phần | Luận điểm |
|---|---|
| (1) | Mùa thu là mùa thiên nhiên thư thái, được thanh lọc; muốn có thần thu, nhà thơ phải thể hiện được các nét đó trong thơ, và chùm thơ thu Nguyễn Khuyến đã làm được. |
| (2) | Hai câu đề ghi được thần thái trời thu: nền trời cao xanh và cần trúc lay trong gió nhẹ. |
| (3) | Hai câu thực hạ tầm nhìn xuống mặt nước và khung cửa: sắc xanh thanh đạm, làn khói hư ảo, song thưa đón trăng. |
| (4) | Hai câu luận mở rộng thời gian, không gian, chất chứa nỗi u hoài kín đáo của thi nhân. |
| (5) | Hai câu kết và đoạn khép: cái thẹn với ông Đào làm hiện lên chân dung nhà thơ phong nhã, nhà nho giữ khí tiết, như cây cô trúc thanh cao. |
Trình tự: luận điểm mở đầu nêu vấn đề chung, các luận điểm tiếp theo đi theo bố cục đề – thực – luận – kết của bài thơ thất ngôn bát cú, cuối cùng nâng lên khái quát về con người tác giả. Cách sắp xếp này tự nhiên, dễ theo dõi, đi từ cảnh đến tình, từ bài thơ đến chân dung nhà thơ.
Câu 3: Thao tác nghị luận và hiệu quả phối hợp trong một đoạn (trang 100)
Để làm rõ đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của từng cặp câu đề, thực, luận, kết, tác giả Chu Văn Sơn đã kết hợp những thao tác nghị luận nào? Hãy chỉ ra các thao tác ấy và phân tích hiệu quả phối hợp của chúng trong một đoạn cụ thể.
Trả lời:
- Các thao tác: giải thích, phân tích, chứng minh, so sánh, bình luận.
- Ví dụ ở phần (4) – hai câu luận:
- Giải thích và chứng minh: chỉ ra chữ năm ngoái đi cùng hình ảnh hoa có nguồn từ chữ y cựu trong thơ Thôi Hộ, được Nguyễn Du dùng lại.
- Phân tích: tách câu thơ để thấy trước giậu chỉ rõ nơi chốn, còn hoa năm ngoái lại mơ hồ về thời gian; hai chữ nước nào làm không gian vừa xa vừa vắng.
- So sánh: đặt tiếng ngỗng trên trời trong Thu vịnh bên tiếng cá đớp mồi dưới nước trong Thu điếu, cùng là cách dùng âm thanh, chuyển động để làm nổi cái tĩnh.
- Bình luận: khẳng định chữ nghĩa Nguyễn Khuyến luôn lắng, lặng, cảm xúc được giấu kín.
- Hiệu quả: các thao tác bổ trợ cho nhau, giúp lời bình vừa có cơ sở chắc chắn, vừa mở rộng được liên tưởng. Người đọc không chỉ hiểu câu thơ nói gì mà còn cảm được tâm trạng của thi nhân và thấy được truyền thống thơ ca mà Nguyễn Khuyến kế thừa.
Câu 4: Kiểu câu chủ yếu trong đoạn văn cuối và tác dụng (trang 100)
Ở đoạn văn cuối (từ “Tất cả những điều ấy” đến “đến thế kỉ nào?”), tác giả chủ yếu sử dụng kiểu câu nào? Theo em, kiểu câu ấy có tác dụng gì trong việc thể hiện thông điệp, giọng điệu, sắc thái cảm xúc của người viết?
Trả lời:
- Kiểu câu: chủ yếu là câu nghi vấn dùng với mục đích tu từ (câu hỏi tu từ). Đoạn văn có ba câu hỏi: câu hỏi về hình ảnh cây cô trúc giữa vườn Bùi, câu “Giữa nơi yên mà nào nó có yên?” và câu hỏi cuối về sự bất an kéo dài đến thế kỉ nào; xen giữa là một câu cảm thán.
- Tác dụng:
- Về thông điệp: các câu hỏi thực chất là lời khẳng định gián tiếp rằng Nguyễn Khuyến là một tâm hồn thanh cao mà luôn trăn trở với thời thế, không bao giờ thật sự yên.
- Về giọng điệu: tạo giọng trầm lắng, suy tư, như lời tâm sự chứ không phải lời phán xét.
- Về cảm xúc: bộc lộ sự đồng cảm, kính trọng của người viết; đồng thời để lại khoảng lặng cho người đọc tự ngẫm, khiến kết bài dư âm.
Câu 5: Những kiến thức được huy động trong đoạn văn bình câu đề (trang 100)
Đoạn văn sau cho thấy tác giả đã huy động những kiến thức nào vào việc đọc hiểu văn bản? Đoạn văn mở đầu bằng câu “Ba chữ mấy từng cao cho thấy tầm nhìn thi sĩ rộng mở cùng với các tầng trời” và kết thúc ở câu “Chữ hắt hiu thật là cái hồn của gió thu”.
Trả lời:
- Kiến thức hội họa, nhiếp ảnh, điện ảnh: các khái niệm nền phông, hậu cảnh, tiền cảnh, sự dịch chuyển tầm nhìn từ xa đến gần cho thấy tác giả đọc bài thơ như xem một bức tranh, một khuôn hình có lớp xa, lớp gần.
- Kiến thức ngôn ngữ: phân biệt nghĩa của cần với cành, ngọn; cảm nhận giá trị của các từ láy lơ phơ, hắt hiu; chú ý tới đường nét, nhịp điệu của chữ.
- Hiểu biết về thơ và về mùa thu: nắm đặc trưng của tiết thu (nét cong mềm, vẻ thưa, gió nhẹ) và cách thơ Đường luật tả cảnh bằng chi tiết chọn lọc.
- Vốn sống, quan sát thực tế: hiểu dáng cây trúc ngoài đời để thấy chữ cần hợp với vẻ mềm, cong của trúc trong gió.
Nhờ huy động nhiều lĩnh vực, lời bình trở nên cụ thể, mới mẻ và thuyết phục.
Câu 6: Đề xuất luận điểm về tâm hồn và tài nghệ Nguyễn Khuyến qua chùm thơ thu (trang 100)
Liên hệ với bài Thu điếu đã học ở Bài 2, em hãy đề xuất một luận điểm (1 hoặc 2 câu) nêu rõ được tâm hồn và tài nghệ của Nguyễn Khuyến qua chùm thơ thu.
Trả lời:
Em có thể chọn một trong các luận điểm sau:
- Luận điểm 1: Ba bài thơ thu cho thấy Nguyễn Khuyến là một tâm hồn gắn bó tha thiết với cảnh sắc làng quê Bắc Bộ, đồng thời là bậc thầy của lối tả cảnh bằng nét chấm phá, lấy động tả tĩnh, dùng chữ giản dị mà tinh tế.
- Luận điểm 2: Đằng sau những bức tranh thu trong trẻo, tĩnh lặng của Thu điếu, Thu vịnh là nỗi u hoài thầm kín của một nhà nho thanh cao, bất lực trước thời thế, được nén vào những câu thơ tình nồng mà lời đạm.
Dẫn chứng có thể dùng: trong Thu điếu, cảnh ao thu nhỏ hẹp, “Ngõ trúc quanh co khách vắng teo”, tiếng cá trong câu “Cá đâu đớp động dưới chân bèo” làm cảnh càng lặng; trong Thu vịnh, tiếng ngỗng giữa trời cao và cái thẹn với ông Đào. Để ôn lại bài Thu điếu, em xem thêm Phân tích bài thơ Câu cá mùa thu và Cảm nhận bài thơ Thu điếu.
Kết luận
Văn bản Gió thanh lay động cành cô trúc là mẫu mực của lối bình thơ chậm rãi, tinh tế: từ từng chữ trong Thu vịnh, Chu Văn Sơn làm hiện lên cảnh thu trong trẻo và tâm hồn thanh cao, nhiều trăn trở của Nguyễn Khuyến. Khi soạn bài, em cần nắm năm phần của văn bản, trình tự luận điểm theo đề – thực – luận – kết, các thao tác nghị luận được phối hợp và ý nghĩa ẩn dụ của hình ảnh cây cô trúc.
Xem thêm:
- Soạn bài Bản sắc là hành trang (Nguyễn Sĩ Dũng) – Ngữ văn 10 Cánh diều
- Phân tích bài thơ Thu vịnh (Nguyễn Khuyến)
- Cảm nhận bài thơ Thu vịnh
- Soạn bài Thu điếu – Ngữ văn 8 Kết nối tri thức
- Thu điếu (Nguyễn Khuyến): tác giả, tác phẩm
- Phân tích bài thơ Câu cá mùa thu (Thu điếu)
- Cảm nhận bài thơ Thu điếu của Nguyễn Khuyến
- Soạn văn 10 Cánh diều – mục lục đầy đủ