Soạn bài Tiếng đàn mưa của Bích Khê giúp em chuẩn bị trọn vẹn văn bản đọc thứ hai của Bài 2 – Những cung bậc tâm trạng, sách Ngữ văn 9 Kết nối tri thức (tập một). Bài soạn trả lời câu hỏi trước khi đọc, 4 câu hỏi trong khi đọc (trang 46), 6 câu hỏi sau khi đọc (trang 47) và gợi ý đoạn văn ở phần Viết kết nối với đọc.
Tìm hiểu chung về bài thơ Tiếng đàn mưa
Trước khi vào từng câu hỏi, em nên đọc lại bài thơ và nắm vài thông tin cơ bản về tác giả, thể thơ, bố cục. Đây là những ý được dùng lại nhiều lần trong phần trả lời.

Văn bản bài thơ
Bích Khê mất năm 1946 nên bài thơ đã thuộc phạm vi công cộng. Văn bản dưới đây đã được đối chiếu giữa bản trong các tài liệu bám sát SGK và bản lưu trên Wikisource.
Mưa hoa rụng, mưa hoa xuân rụng
Mưa xuống lầu, mưa xuống thềm lan
Mưa rơi ngoài nẻo dặm ngàn
Nước non rả rích giọng đàn mưa xuân.
Lầu mưa xuống, thềm lan mưa xuống
Cùng nước non hoa rụng mưa xuân
Mưa rơi ngoài nội trên ngàn
Nghe trong ý khách giọt đàn mưa rơi.
Đầm mưa xuống, nẻo đồi mưa xuống
Bóng dương tà rụng bóng tà dương
Hoa xuân rơi với bóng dương
Mưa trong ý khách mưa cùng nước non.
Rơi hoa hết mưa còn rả rích
Càng mưa rơi càng tịch bóng dương
Bóng dương với khách tha hương
Mưa trong ý khách muôn hàng lệ rơi.
Tác giả Bích Khê
Bích Khê (1916 – 1946), tên thật là Lê Quang Lương, người Quảng Ngãi, xuất thân trong một gia đình nhà nho có truyền thống yêu nước. Ông làm thơ Đường luật từ rất sớm, sau năm 1937 chuyển sang Thơ mới và chịu ảnh hưởng rõ của Hàn Mặc Tử. Thơ ông nổi tiếng táo bạo, nhiều tìm tòi về âm điệu, giàu màu sắc tượng trưng. Tập thơ duy nhất in khi ông còn sống là Tinh huyết (1939); các tập Tinh hoa, Mấy dòng thơ cũ được in sau khi ông mất.
Xuất xứ, thể thơ, bố cục
- Xuất xứ: bài thơ thuộc tập Tinh hoa, tập hợp những sáng tác của Bích Khê trong khoảng 1938 – 1944.
- Thể thơ: song thất lục bát, gồm 4 khổ, mỗi khổ có hai câu bảy chữ và một cặp lục bát.
- Phương thức biểu đạt chính: biểu cảm, kết hợp miêu tả.
- Bố cục: 2 phần. Ba khổ đầu: mưa xuân rơi khắp không gian, hoa rụng theo mưa. Khổ cuối: nỗi buồn của người khách xa quê, mưa hóa thành nước mắt.
Soạn bài Tiếng đàn mưa – Trước khi đọc (trang 46)
Phần khởi động có một câu hỏi, giúp em nhớ lại trải nghiệm của chính mình với âm thanh và âm nhạc.
Câu 1: Chia sẻ về một âm thanh hoặc bản nhạc khiến em cảm động (trang 46)
Hãy chia sẻ cảm nhận về một âm thanh hoặc bản nhạc từng khiến em cảm động.
Trả lời:
Em có thể chọn một âm thanh rất đời thường, miễn là em kể được vì sao nó chạm tới mình. Gợi ý:
Với em, tiếng mưa đêm gõ trên mái tôn ở nhà bà ngoại là âm thanh đáng nhớ nhất. Hồi nhỏ, mỗi lần về quê nghỉ hè, đêm nào trời đổ mưa em cũng nằm cạnh bà, nghe tiếng mưa lộp độp lúc dày lúc thưa như ai đang gõ nhịp. Bà vừa quạt vừa kể chuyện ngày xưa, giọng bà hòa vào tiếng mưa nghe ấm áp lạ thường. Bây giờ ở thành phố, mỗi khi nghe mưa rơi, em lại nhớ căn nhà nhỏ và bàn tay gầy của bà. Tiếng mưa với em vì thế không chỉ là âm thanh của trời đất mà còn là âm thanh của tuổi thơ và tình thương.
Soạn bài Tiếng đàn mưa – Đọc văn bản (trang 46)
Trong khi đọc, SGK đặt 4 câu hỏi ở lề sách (hình dung, theo dõi, suy luận). Em trả lời nhanh bằng cách gạch chân chi tiết ngay trên bài thơ.
Câu 1: Hình dung những sự vật, hiện tượng phụ họa cùng mưa (trang 46)
Hình dung: Những sự vật, hiện tượng phụ họa cùng mưa.
Trả lời:
- Hoa, hoa xuân rụng xuống theo từng đợt mưa.
- Nước non cất lên âm thanh “rả rích” như tiếng đàn.
- Bóng dương tà (ánh nắng chiều) cũng như “rụng” xuống cùng mưa.
- Cuối bài, cả nỗi lòng và nước mắt của người khách cũng rơi theo mưa.
Câu 2: Theo dõi những nơi mưa rơi xuống (trang 46)
Theo dõi: Những nơi mưa rơi xuống.
Trả lời:
Mưa trút xuống lầu, thềm lan (gần người), rồi lan ra nẻo dặm ngàn, ngoài nội, trên ngàn, xuống đầm, xuống nẻo đồi (xa dần). Không gian mưa trải từ chỗ ở của con người ra tới cả núi đồi, đồng nội, phủ kín nước non.
Câu 3: Theo dõi cách sử dụng các biện pháp tu từ (trang 46)
Theo dõi: Cách sử dụng các biện pháp tu từ.
Trả lời:
- Điệp từ, điệp ngữ: “mưa” lặp 18 lần, cùng các từ “xuống”, “rơi”, “rụng”, “ý khách”, “bóng dương”… tạo nhịp như những giọt mưa nối nhau không dứt.
- Đảo trật tự, điệp cấu trúc: câu “Mưa xuống lầu, mưa xuống thềm lan” ở khổ 1 được đảo thành “Lầu mưa xuống, thềm lan mưa xuống” ở khổ 2, rồi tiếp tục thành “Đầm mưa xuống, nẻo đồi mưa xuống” ở khổ 3. Trong câu “Bóng dương tà rụng bóng tà dương”, nhà thơ đảo chữ “dương tà” thành “tà dương” để vừa tả, vừa tạo âm vang.
- Ẩn dụ và chuyển đổi cảm giác: tiếng mưa được gọi là “giọng đàn”, rồi “giọt đàn” (âm thanh có hình giọt); nắng chiều cũng “rụng” như hoa; mưa ở cuối bài hóa thành “lệ”.
Các biện pháp này được dùng dày đặc nhưng hài hòa, khiến bài thơ đọc lên như một bản nhạc buồn.
Câu 4: Suy luận nguyên nhân khiến “khách tha hương” rơi lệ (trang 46)
Suy luận: Nguyên nhân khiến nhân vật “khách tha hương” rơi lệ.
Trả lời:
Người khách đang sống xa quê. Giữa buổi chiều mưa xuân, hoa rụng hết, nắng tắt dần, chỉ còn mình với bóng chiều, nên cô đơn cùng nhớ quê dâng lên đến mức không kìm được nước mắt. Cảnh vật mang sắc thái tàn phai (hoa rơi, nắng rụng) càng làm lòng khách thêm buồn. Nếu đặt bài thơ vào thời đất nước còn bị đô hộ, hình ảnh “nước non” lặp lại nhiều lần còn gợi thêm nỗi buồn thầm kín của một người yêu quê hương, đất nước.
Soạn bài Tiếng đàn mưa – Sau khi đọc (trang 47)
Phần đọc hiểu gồm 6 câu hỏi ở trang 47. Dưới mỗi đề là gợi ý trả lời ngắn gọn, có dẫn chứng từ bài thơ.
Câu 1: Đặc điểm thể thơ song thất lục bát trong bài thơ (trang 47)
Chỉ ra những đặc điểm của thể thơ song thất lục bát thể hiện trong bài thơ Tiếng đàn mưa.
Trả lời:
| Đặc điểm | Biểu hiện trong bài thơ |
|---|---|
| Số câu, số chữ | 16 câu chia 4 khổ. Mỗi khổ gồm hai câu 7 chữ (song thất) tiếp nối bằng một câu 6 chữ và một câu 8 chữ (lục bát). |
| Vần | Tiếng cuối câu thất thứ hai vần với tiếng cuối câu lục: lan – ngàn (khổ 1), dương – dương (khổ 3), dương – hương (khổ 4). Chữ cuối câu lục hiệp vần cùng chữ thứ sáu câu bát: ngàn – đàn (khổ 1, khổ 2). Tiếng cuối câu thất đầu (thanh trắc) vần với tiếng giữa câu thất sau: rích – tịch (khổ 4), xuống – rụng (khổ 2, vần gần). |
| Thanh điệu | Câu thất đầu kết thúc bằng thanh trắc (rụng, xuống, rích), câu thất sau kết thúc bằng thanh bằng (lan, xuân, dương), cặp lục bát kết thúc bằng thanh bằng, đúng khung của thể thơ. |
| Nhịp | Câu bảy chữ có nhịp lẻ đi trước, nhịp chẵn theo sau: “Mưa hoa rụng / mưa hoa xuân rụng” (3/4). Câu lục, câu bát ngắt nhịp chẵn: “Mưa rơi / ngoài nẻo / dặm ngàn” (2/2/2). |
Nhờ thể thơ này, bài thơ vừa có vẻ trang trọng, ngân nga của hai câu thất, vừa có sự mềm mại, êm ái của cặp lục bát, rất hợp để diễn tả tiếng mưa kéo dài và nỗi buồn triền miên.
Câu 2: Bố cục và nội dung chính từng phần (trang 47)
Xác định bố cục của bài thơ và nêu nội dung chính của từng phần.
Trả lời:
Có hai cách chia hợp lí:
- Cách 1 – chia hai phần: khổ 1 đến khổ 3 tả mưa xuân rơi khắp nơi, hoa rụng cùng mưa, tiếng mưa như tiếng đàn; khổ cuối nói về nỗi lòng người khách xa quê, mưa hóa thành nước mắt.
- Cách 2 – theo 4 khổ: Khổ 1: mưa xuân và những sự vật cùng rơi theo mưa. Khổ 2: mưa trải ra khắp chốn, tiếng mưa bắt đầu vang lên trong lòng người khách. Khổ 3: mưa trong buổi chiều tà, mưa ngoài trời hòa với mưa trong lòng. Khổ 4: hoa rụng hết, nắng tắt dần, người khách tha hương rơi lệ.
Câu 3: Những từ ngữ được lặp lại và tác dụng (trang 47)
Những từ ngữ nào được sử dụng nhiều lần trong bài thơ? Việc lặp lại những từ ngữ đó có tác dụng gì?
Trả lời:
| Từ ngữ | Số lần | Tác dụng |
|---|---|---|
| mưa | 18 (khổ 1: 6, khổ 2: 5, khổ 3: 4, khổ 4: 3) | Phủ kín bài thơ như cơn mưa phủ kín không gian; mật độ thưa dần ở cuối bài như mưa ngớt hạt mà nỗi buồn lại đậm lên. |
| rơi, xuống, rụng | 7, 6, 4 | Gợi chuyển động đi xuống của mưa, hoa, nắng chiều, nước mắt; hướng đi xuống ấy tạo cảm giác tàn phai, chùng lòng. |
| hoa, xuân | 5, 4 | Gợi vẻ đẹp tươi tắn của mùa xuân, để rồi vẻ đẹp ấy rơi rụng dần theo mưa. |
| khách, ý khách | 4 (trong đó “ý khách” 3 lần) | Con người xuất hiện muộn (từ khổ 2) rồi rõ dần đến khổ cuối, cho thấy mạch thơ đi từ cảnh vào tình. |
| bóng dương | 4 | Đánh dấu thời gian chiều tà, ánh sáng nhạt và tắt dần, làm nền cho nỗi cô đơn. |
| nước non | 3 | Mở rộng tầm nhìn ra cả đất trời, quê hương; khiến nỗi buồn riêng của người khách mang thêm ý nghĩa rộng lớn. |
Tác dụng chung: tạo nhạc tính (nhịp đều như tiếng mưa, tiếng đàn), nhấn mạnh hình ảnh trung tâm là mưa, đồng thời làm nổi bật mạch cảm xúc ngày một trĩu nặng của người khách.
Câu 4: Đặc điểm chung của sự vật phụ họa cùng mưa (trang 47)
Nêu đặc điểm chung của những sự vật, hiện tượng phụ họa cùng mưa trong bài thơ. Theo em, tác giả muốn khắc họa tâm trạng gì qua những sự vật, hiện tượng ấy?
Trả lời:
- Đặc điểm chung: hoa, nắng chiều, nước mắt đều đang rơi, rụng, đi xuống. Chúng đều là những vẻ đẹp mong manh (hoa xuân, ánh dương) đang tàn phai, tắt lịm dần. Cảnh vật lan từ gần (lầu, thềm) ra xa (đồi, đầm, ngàn) rồi lại thu vào lòng người.
- Tâm trạng được khắc họa: nỗi buồn man mác rồi thấm dần thành cô đơn, nhớ quê của người xa xứ. Cảnh càng đẹp mà càng tàn, lòng người càng trống trải; đến khi hoa rụng hết, nắng tắt hẳn thì nỗi buồn vỡ òa thành nước mắt.
Câu 5: Mối liên hệ giữa “nước non” và hai câu thơ cuối (trang 47)
Chỉ ra mối liên hệ giữa hình ảnh nước non ở ba khổ thơ đầu với nội dung của hai câu thơ cuối.
Trả lời:
- Ở ba khổ đầu, mỗi khổ đều có “nước non”: nước non vang tiếng mưa như tiếng đàn (khổ 1), hoa rụng cùng nước non (khổ 2), mưa trong lòng khách hòa cùng nước non (khổ 3). Nước non hiện lên đẹp mà nhuốm buồn.
- Hai câu cuối không còn nhắc nước non, chỉ còn “Bóng dương với khách tha hương” và “muôn hàng lệ rơi”. Người khách là kẻ xa quê, nghĩa là xa chính nước non của mình.
- Như vậy, nước non trong ba khổ đầu chính là thứ khơi gợi và tích tụ nỗi nhớ; đến cuối bài, nỗi nhớ ấy dâng đầy và tuôn ra thành nước mắt. Đặt trong thời đại đất nước mất chủ quyền, có thể hiểu thêm: giọt lệ ấy chứa cả nỗi buồn thầm kín về quê hương, đất nước của nhà thơ.
Câu 6: Điều em ấn tượng nhất ở bài thơ (trang 47)
Em có ấn tượng nhất với điều gì ở bài thơ? Vì sao?
Trả lời:
Em có thể chọn một trong những điểm sau và nêu lí do:
- Nhạc điệu của bài thơ: đọc lên nghe như tiếng mưa thật, nhờ thể song thất lục bát, nhịp đều và những từ lặp lại liên tiếp.
- Câu thơ “Bóng dương tà rụng bóng tà dương”: chỉ đảo hai chữ mà gợi được ánh nắng chiều rơi rớt từng mảng, rất lạ và rất đẹp.
- Câu kết “Mưa trong ý khách muôn hàng lệ rơi”: mưa ngoài trời đã thành mưa trong lòng, giọt mưa thành giọt lệ, khép bài thơ bằng một nỗi buồn sâu lắng.
Gợi ý một câu trả lời hoàn chỉnh: Em ấn tượng nhất với câu thơ cuối, vì cả bài thơ tả mưa rơi bên ngoài, đến đây mưa mới thật sự rơi trong lòng người. Hình ảnh “muôn hàng lệ” khiến em hiểu nỗi nhớ quê của người xa xứ lớn đến mức nào và thấy thương người khách lặng lẽ một mình trong chiều mưa.
Viết kết nối với đọc (trang 47)
Phần viết yêu cầu một đoạn văn ngắn, nối tiếp những gì em vừa đọc hiểu.
Câu 1: Viết đoạn văn nêu cảm nghĩ về bài thơ (trang 47)
Viết đoạn văn (khoảng 7 – 9 câu) nêu cảm nghĩ của em về bài thơ Tiếng đàn mưa.
Trả lời:
Cách làm: câu mở đoạn nêu tên bài thơ, tác giả và cảm nghĩ chung; các câu giữa chọn 2–3 chi tiết em thích nhất để nêu cảm xúc; câu kết đoạn khẳng định lại ấn tượng của em. Có thể tham khảo hai đoạn sau.
Đoạn văn tham khảo 1
Đọc Tiếng đàn mưa của Bích Khê, em như được nghe một bản nhạc buồn mà rất đẹp. Bài thơ mở ra bằng cơn mưa xuân phủ khắp lầu, thềm, đồng nội, núi đồi, nơi nào cũng có hoa rụng theo mưa. Em thích nhất cách nhà thơ gọi tiếng mưa là “giọng đàn”, rồi “giọt đàn”, khiến từng hạt mưa như một nốt nhạc ngân lên. Càng về cuối, mưa càng thưa, hoa rụng hết, nắng chiều tắt dần và người khách xa quê hiện ra một mình. Câu thơ “Mưa trong ý khách muôn hàng lệ rơi” làm em lặng đi, vì mưa ngoài trời đã biến thành nước mắt trong lòng người. Thể thơ song thất lục bát với những từ ngữ lặp lại liên tiếp khiến bài thơ đọc lên cứ đều đều, dai dẳng như tiếng mưa. Bài thơ giúp em hiểu nỗi cô đơn của những người phải sống xa quê và thêm trân trọng nơi mình được sinh ra.
Đoạn văn tham khảo 2
Tiếng đàn mưa là một bài thơ ngắn nhưng để lại trong em nhiều dư âm. Bích Khê không tả cơn mưa bằng sấm chớp hay gió bão mà bằng những âm thanh nhỏ nhẹ, “rả rích”, như ai đang dạo đàn. Mưa rơi đến đâu, hoa xuân rụng đến đó, và cả ánh nắng chiều cũng như rụng theo, qua câu thơ đảo chữ “Bóng dương tà rụng bóng tà dương”. Cảnh vật đẹp mà buồn ấy dần dần thấm vào lòng người khách. Đến khổ cuối, khi chỉ còn “Bóng dương với khách tha hương”, em cảm nhận rõ sự cô đơn của một người đứng giữa trời đất mênh mông mà không có quê nhà bên cạnh. Bài thơ khiến em nhận ra rằng thiên nhiên có thể trở thành tiếng nói của tâm hồn con người. Mỗi lần nghe mưa, em chắc sẽ nhớ đến tiếng đàn mưa của Bích Khê.
Nội dung và nghệ thuật bài thơ Tiếng đàn mưa
Phần tổng kết giúp em ghi nhớ nhanh giá trị của bài thơ sau khi soạn.
Nội dung
Qua cảnh mưa xuân rơi trong buổi chiều tà, bài thơ diễn tả nỗi buồn, nỗi cô đơn và niềm nhớ quê của một người khách tha hương. Mưa ngoài trời đất dần hòa vào mưa trong lòng người, cuối cùng hóa thành nước mắt.
Nghệ thuật
- Thể song thất lục bát được vận dụng uyển chuyển, giàu nhạc điệu.
- Điệp từ, điệp cấu trúc, đảo trật tự từ dày đặc nhưng hài hòa, tạo âm hưởng như tiếng mưa, tiếng đàn.
- Hình ảnh giàu tính tượng trưng (mưa, hoa rụng, bóng dương, lệ), chuyển đổi cảm giác độc đáo (giọt đàn).
- Bút pháp tả cảnh ngụ tình: cảnh đi từ ngoại cảnh vào tâm trạng.
Kết luận
Soạn bài Tiếng đàn mưa, em thấy Bích Khê đã biến một cơn mưa xuân thành bản nhạc của tâm hồn: mỗi chữ “mưa”, mỗi tiếng “rơi” là một nốt buồn ngân lên trong lòng người xa quê. Khi học Bài 2, em có thể đặt bài thơ này cạnh đoạn trích Chinh phụ ngâm để so sánh hai cách dùng thể song thất lục bát diễn tả tâm trạng.
Xem thêm:
- Soạn bài Nỗi niềm chinh phụ (Ngữ văn 9 Kết nối tri thức)
- Nỗi niềm chinh phụ: tác giả, tác phẩm, bố cục
- Thơ Hàn Mặc Tử – người mở đường cho Bích Khê đến với Thơ mới
- Mục lục Ngữ văn 9 Kết nối tri thức
- Nhà thơ Bích Khê – Tinh huyết, Tinh hoa và tiếng đàn tượng trưng