Siêu thực là thuộc về chủ nghĩa siêu thực, trào lưu văn học nghệ thuật ra đời ở Paris đầu thế kỷ 20, muốn ghi lại giấc mơ và vô thức bằng những hình ảnh ghép lạ, vượt ra ngoài logic thường ngày. Trong lời nói hằng ngày, “đẹp siêu thực” còn dùng để khen cảnh vật đẹp như không có thật. Với học sinh, siêu thực hay gặp nhất khi bàn về thơ Hàn Mặc Tử.
| Khái niệm | Thuộc chủ nghĩa siêu thực: lối sáng tác để vô thức, giấc mơ dẫn đường, ghép những hình ảnh tưởng không liên quan |
| Gốc từ | Dịch từ tiếng Pháp surréalisme: sur (ở trên, vượt lên) + réalisme (hiện thực) |
| Thuộc | Thuật ngữ văn học, nghệ thuật; nay thêm nghĩa khẩu ngữ “lạ và đẹp như trong mơ” |
| Dấu hiệu nhận biết | Hình ảnh phi lý mà cụ thể, logic giấc mơ, liên tưởng nhảy cóc, cảm giác chao đảo |

Siêu thực: vượt lên trên cái thực
Chữ “siêu” ở đây không phải “siêu” trong siêu thị hay siêu nhân. Nó dịch tiền tố sur của tiếng Pháp, nghĩa là ở bên trên. Siêu thực vì vậy là một thứ thực tại nằm cao hơn, sâu hơn cái thực ta nhìn thấy hằng ngày: thực tại của giấc mơ, của những ý nghĩ chưa kịp qua sự kiểm duyệt của lý trí.
Từ này có trước cả phong trào. Năm 1917, nhà thơ Guillaume Apollinaire đã dùng chữ surréalisme. Bảy năm sau, André Breton viết Tuyên ngôn siêu thực (1924) và định nghĩa nó là lối tự động tâm lý thuần túy: để ý nghĩ tự tuôn ra, không để lý trí, thẩm mỹ hay đạo đức kiểm soát. Trào lưu bắt đầu từ thơ, rồi mới lan sang hội họa, điện ảnh và tiểu thuyết. Phần hội họa với những chiếc đồng hồ chảy mềm được kể riêng ở bài những bức tranh đồng hồ chảy của Dalí.
Từ điển tiếng Việt xếp siêu thực là tính từ, nghĩa là thuộc về trào lưu ấy, như khi nói thơ siêu thực, tranh siêu thực. Cách nói “đẹp siêu thực”, “khung cảnh siêu thực” trên mạng là nghĩa mở rộng, chỉ còn giữ lại cảm giác “như trong mơ”.
Một trang viết siêu thực trông ra sao?
Không có công thức, nhưng thơ văn siêu thực thường để lại năm dấu vết:
- Ghép những thứ xa nhau. Nhóm của Breton rất mê một câu văn của Lautréamont: đẹp như cuộc gặp tình cờ của chiếc máy khâu và cây dù trên bàn mổ. Ba đồ vật chẳng liên quan gì, đặt cạnh nhau bỗng sinh ra một vẻ đẹp lạ. Đó gần như là “công thức” hình ảnh của siêu thực.
- Logic của giấc mơ. Mọi thứ chuyển cảnh không báo trước, vật này hóa vật kia, người viết không giải thích.
- Viết tự động. Breton và Philippe Soupault thử viết thật nhanh, không sửa, không dừng lại suy nghĩ; kết quả là tập Những cánh đồng từ trường, viết năm 1919 và in năm 1920.
- Vật chất bị biến chất. Ánh sáng thành chất lỏng, âm thanh có hình khối, thời gian mềm ra.
- Cái tôi chìm vào vô thức. Nhóm siêu thực chịu ảnh hưởng tâm lý học Freud, tin rằng phần sâu kín của tâm trí chứa nhiều sự thật hơn phần tỉnh táo.
Muốn biết một câu thơ có chất siêu thực hay không, có thể thử hỏi: hình ảnh này có xảy ra được ngoài đời không, và nếu không thì nó có giống cảnh trong mơ không? Hai câu trả lời “không” rồi “có” là dấu hiệu khá chắc.
Sông trăng trong Đây thôn Vĩ Dạ
Thơ mới Việt Nam không có một phong trào siêu thực kiểu Breton, nhưng ở chặng cuối, khuynh hướng tượng trưng và siêu thực nổi lên rõ, gắn với nhóm thường được gọi là Trường thơ Loạn: Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Yến Lan… Một ví dụ quen thuộc nằm ngay trong sách giáo khoa:
Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,
Có chở trăng về kịp tối nay?
Hai câu đầu còn là cảnh thật: gió, mây, dòng sông, hoa bắp. Đến câu thứ ba, dòng sông bỗng thành “sông trăng”, rồi ánh trăng thành thứ hàng có thể chất lên thuyền chở đi. Không ai chở được trăng, vậy mà câu hỏi lại tha thiết như thật, còn lo “kịp tối nay”. Đó chính là logic của giấc mơ: cái phi lý được nói bằng giọng tự nhiên nhất.
Cũng phải nói cho đúng mức. Có ý kiến nghiên cứu cho rằng chất siêu thực ở Hàn Mặc Tử đến từ những cơn đau và nỗi cô đơn của chính nhà thơ hơn là từ việc học theo phương pháp của nhóm Breton. Vì thế khi làm bài, nên viết “bút pháp mang màu sắc siêu thực”, “hình ảnh siêu thực” thay vì khẳng định ông là nhà thơ siêu thực. Bài soạn bài Đây thôn Vĩ Dạ Cánh diều có đủ câu hỏi đọc hiểu cho bài thơ này, còn đặc điểm chung của ông có ở bài nét riêng trong phong cách thơ Hàn Mặc Tử.
Siêu thực, tượng trưng và lãng mạn khác nhau thế nào?
| Trào lưu | Ra đời | Dựa vào | Hình ảnh tiêu biểu |
|---|---|---|---|
| Lãng mạn | Cuối thế kỷ 18 – thế kỷ 19 | Cảm xúc, cái tôi, mộng tưởng | Thiên nhiên đẹp, tình yêu, nỗi buồn; vẫn theo logic thường |
| Tượng trưng | Cuối thế kỷ 19, Pháp | Biểu tượng, nhạc tính, sự tương giao giữa các giác quan | Hương có màu, âm thanh có hình; vẫn được sắp đặt có ý thức |
| Siêu thực | Thập niên 1920, Paris | Vô thức, giấc mơ, viết tự động | Đồ vật phi lý đặt cạnh nhau, cảnh như mộng |
| Hiện thực huyền ảo | Giữa thế kỷ 20, Mỹ Latinh | Đời sống thật pha phép lạ | Chuyện kỳ lạ kể bằng giọng bình thản như chuyện thường |
Ranh giới giữa tượng trưng và siêu thực mờ nhất, vì siêu thực học được rất nhiều từ các nhà thơ tượng trưng. Chỗ khác căn bản: nhà thơ tượng trưng vẫn chọn lựa, sắp đặt biểu tượng một cách tỉnh táo; nhà thơ siêu thực muốn buông tay cho vô thức. Thơ Mới cũng có người đi theo lối tượng trưng rõ hơn, như tác giả của tập Tinh huyết, Bích Khê. Còn nghĩa của chữ lãng mạn thì xem bài ba sắc thái của chữ lãng mạn.
Nhận ra hình ảnh siêu thực qua năm câu
Câu 1: Câu nào mang màu sắc siêu thực? a) “Mặt trời đỏ như hòn than cuối bếp.” b) “Chiếc đồng hồ tan chảy trên cành cây khô.”
Đáp án: Câu b. Câu a là phép so sánh, mặt trời vẫn là mặt trời, chỉ được ví với hòn than. Câu b đổi bản chất của vật: kim loại mềm ra như sáp, một cảnh không thể có ngoài đời mà rất giống giấc mơ.
Câu 2: Trong câu “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó”, chi tiết nào làm nên chất siêu thực?
Đáp án: Chi tiết “sông trăng” và việc thuyền “chở trăng”. Ánh trăng vốn không cầm nắm được bị biến thành dòng sông và thành hàng hóa, khiến cảnh thật chuyển sang cảnh mộng.
Câu 3: “Đẹp siêu thực” trong câu “Hoàng hôn trên đồi chè hôm qua đẹp siêu thực” có phải thuật ngữ văn học không?
Đáp án: Không. Đây là nghĩa khẩu ngữ, chỉ cảnh đẹp đến mức khó tin. Câu này không nói gì về giấc mơ, vô thức hay cách sáng tác.
Câu 4: Phân biệt hai cách nói: “nhà thơ siêu thực” và “hình ảnh mang màu sắc siêu thực”.
Đáp án: “Nhà thơ siêu thực” là xếp người viết vào trào lưu, đòi hỏi họ theo quan niệm và phương pháp của trào lưu ấy. “Hình ảnh mang màu sắc siêu thực” chỉ nhận xét về một số câu thơ. Với Hàn Mặc Tử, cách nói thứ hai an toàn hơn.
Câu 5: Viết một câu văn có hình ảnh siêu thực tả nỗi nhớ nhà.
Đáp án tham khảo: “Đêm ký túc xá, tôi mở ngăn kéo và thấy cả mái bếp nhà mình đang bốc khói trong đó.” Ngăn kéo không chứa được mái bếp, nhưng cảnh phi lý ấy diễn tả đúng cảm giác quê nhà lúc nào cũng ở sát bên.
Siêu thực trong lời khen, bài thi và tranh vẽ
Đẹp siêu thực nghĩa là gì?
Là đẹp đến mức như không có thật, như cảnh trong mơ hay trong phim. Đây là nghĩa mở rộng trong khẩu ngữ, không gắn với trào lưu nghệ thuật, nên trong bài nghị luận văn học không nên dùng theo nghĩa này.
Chủ nghĩa siêu thực là gì?
Là trào lưu văn học nghệ thuật do André Breton khởi xướng với Tuyên ngôn siêu thực năm 1924 ở Paris. Trào lưu đề cao giấc mơ, vô thức và lối viết tự động, ảnh hưởng tới thơ, hội họa, nhiếp ảnh, điện ảnh.
Siêu thực tiếng Anh là gì?
Tính từ là surreal hoặc surrealist, danh từ chỉ trào lưu là surrealism, mượn từ tiếng Pháp surréalisme.
Siêu thực và siêu hiện thực có giống nhau không?
Không. Siêu hiện thực (hyperrealism) là lối vẽ giống ảnh chụp đến từng chi tiết. Siêu thực thì cố tình làm cảnh vật trở nên phi lý như trong mơ. Một bên đuổi theo cái thật, một bên vượt khỏi cái thật.