Ngày xưa là bài thơ lục bát ngắn của Vũ Cao kể chuyện người bà ru cháu bằng những câu Kiều, qua đó cho thấy sức sống bền bỉ của Truyện Kiều trong đời sống người Việt. Bài thơ là văn bản đọc kết nối chủ điểm của Bài 4 “Khám phá vẻ đẹp văn chương”, Ngữ văn 9 Kết nối tri thức tập 1. Bài viết dưới đây tổng hợp thông tin tác giả, xuất xứ, thể loại, bố cục, giá trị nội dung – nghệ thuật và sơ đồ tư duy để em ôn tập nhanh.
Nội dung văn bản Ngày xưa
Bài thơ gồm 14 dòng lục bát, kể một cảnh sinh hoạt gia đình quen thuộc qua lời người con. Chiều chiều, người bà (“mẹ tôi”) ôm cháu và ru bằng những câu Kiều:

Mẹ tôi ru cháu chiều chiều
Thường là ru mấy câu Kiều cháu nghe:
“Mây Tần khóa kín song the
Bụi hồng lẽo đẽo đi về chiêm bao…”
Người con băn khoăn: em bé còn nhỏ thế, làm sao hiểu được những câu thơ từ thuở xa xưa? Bà nhìn con mà không trả lời, hai tay vẫn ôm cháu và cất lên hai câu Kiều khác, những câu nàng Kiều dặn dò Thúy Vân trong đoạn trao duyên. Em bé đôi má tròn đầy lại ngủ ngon lành. Cuối bài, bà bâng khuâng nói một điều: thương “phận cô Kiều ngày xưa”.
Vũ Cao mất năm 2007, bài thơ còn được bảo hộ quyền tác giả nên bài viết chỉ trích những dòng tiêu biểu; em đọc toàn văn trong SGK Ngữ văn 9 Kết nối tri thức tập 1.
Thông tin tác giả Vũ Cao
Vũ Cao (1922–2007), tên thật là Vũ Hữu Chỉnh, quê ở huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, sinh trong một gia đình nhà nho. Ông là anh ruột của nhà văn Vũ Tú Nam.
Ông nhập ngũ năm 1946, trong kháng chiến chống Pháp làm báo ở Liên khu IV, rồi làm phóng viên báo Vệ quốc quân, báo Quân đội nhân dân. Từ năm 1957, ông công tác tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội, nhiều năm giữ cương vị Chủ nhiệm (Tổng Biên tập), quân hàm Đại tá. Sau khi rời quân ngũ, ông làm Giám đốc Nhà xuất bản Hà Nội, Phó Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Hà Nội, Chủ tịch Hội đồng thơ Hội Nhà văn Việt Nam. Năm 2001, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật.
Vũ Cao nổi tiếng nhất với bài thơ Núi Đôi, câu chuyện tình bi tráng của anh bộ đội và cô du kích quê hương. Thơ ông phần lớn viết về chiến tranh, người lính và tình cảm con người trong kháng chiến; giọng thơ giản dị, giàu chất tự sự, cảm xúc chân thành, lắng đọng. Tác phẩm tiêu biểu: Núi Đôi, Sớm nay, Đèo trúc (thơ); Truyện một người bị bắt, Những người cùng làng, Từ một trận địa (văn xuôi).
Thông tin tác phẩm Ngày xưa
Xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác bài thơ Ngày xưa
Bài thơ in trong tập Thơ với tuổi thơ (NXB Kim Đồng, Hà Nội, 2001), SGK Ngữ văn 9 Kết nối tri thức trích in theo nguồn này. Các tài liệu hiện có không ghi rõ năm sáng tác. Bài thơ lấy cảm hứng từ một cảnh đời thường trong gia đình: bà ru cháu bằng Truyện Kiều, một nét sinh hoạt văn hóa quen thuộc của nhiều thế hệ người Việt.
Thể loại, phương thức biểu đạt, ngôi kể
- Thể loại: thơ lục bát (14 dòng), có lồng 4 dòng trích nguyên văn Truyện Kiều.
- Phương thức biểu đạt: biểu cảm kết hợp tự sự.
- Ngôi kể: ngôi thứ nhất, người kể xưng “tôi” (con của bà, cha hoặc mẹ của em bé).
- Đề tài: tình cảm gia đình và sức sống của Truyện Kiều trong đời sống.
Bố cục: Ngày xưa có mấy phần?
Bài thơ có thể chia làm 2 phần:
- Phần 1 (từ đầu đến “mẹ ơi”): bà ru cháu bằng những câu Kiều; người con băn khoăn cháu nhỏ làm sao hiểu được.
- Phần 2 (còn lại): bà không trả lời, tiếp tục ru bằng câu Kiều; em bé ngủ ngon; bà bâng khuâng thương thân phận nàng Kiều.
Giá trị nội dung
- Tái hiện cảnh bà ru cháu bằng Truyện Kiều, gợi tình cảm gia đình ấm áp, sự gắn bó giữa ba thế hệ.
- Cho thấy Truyện Kiều được tiếp nhận theo nhiều cách: người bà cảm bằng trải nghiệm và lòng thương, người con nghĩ bằng lí trí, em bé tiếp nhận vô thức qua nhạc điệu.
- Khẳng định sức sống bền bỉ của Truyện Kiều: tác phẩm đi vào đời sống qua lời ru, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác; gợi ý thức trân trọng, gìn giữ di sản văn chương dân tộc.
Giá trị nghệ thuật
- Thể thơ lục bát cùng nhịp với Truyện Kiều và lời ru dân gian; câu Kiều được lồng vào tự nhiên, vần liền mạch.
- Ngôn từ, hình ảnh giản dị, gần gũi; cách kể như một câu chuyện nhỏ có ba nhân vật.
- Đan xen nhiều giọng: lời kể, lời hỏi, lời ru (câu Kiều), lời bà nói; kết thúc gợi mở, dư âm.
Ý nghĩa nhan đề Ngày xưa
Nhan đề lấy từ hai chữ cuối bài thơ (“phận cô Kiều ngày xưa”). “Ngày xưa” trước hết là thời của nàng Kiều, của những câu thơ “tự thuở nào”; đó cũng là thời người bà thuộc Kiều, ru con, và là kí ức mà người con, em bé sau này sẽ mang theo. Nhan đề vì thế gợi một mạch nguồn nối dài: cái “ngày xưa” không mất đi mà vẫn sống trong hiện tại qua lời ru.
Sơ đồ tư duy bài thơ Ngày xưa
Sơ đồ dưới đây tóm tắt nhanh các ý chính về tác giả, xuất xứ, thể loại, bố cục, nội dung và nghệ thuật.

Lời kết
Ngày xưa chỉ có 14 dòng thơ nhưng chứa cả một câu chuyện về văn hóa: Truyện Kiều sống trong lời ru của bà và thấm dần vào giấc ngủ của cháu. Nắm chắc tác giả, bố cục hai phần và ba cách tiếp nhận Truyện Kiều trong bài, em sẽ dễ dàng làm các bài đọc hiểu, viết đoạn văn hay bài phân tích về bài thơ.
Xem thêm:
- Bài thơ Núi đôi (Vũ Cao)
- Tác giả Nguyễn Du: cuộc đời và sự nghiệp
- Tổng hợp những bài thơ Nguyễn Du nổi tiếng