Soạn bài Hai loại khác biệt giúp em trả lời các câu hỏi trước khi đọc, sáu câu hỏi trong khi đọc, sáu câu hỏi sau khi đọc và phần viết kết nối với đọc ở trang 58 – 61, Bài 8 (Khác biệt và gần gũi), sách Ngữ văn 6 Kết nối tri thức tập hai. Văn bản nghị luận ngắn này kể lại một kỉ niệm thời trung học để bàn về cách mỗi người chọn trở nên khác biệt.
Tìm hiểu chung về văn bản Hai loại khác biệt
Trước khi soạn, em cần biết đôi nét về người viết, nguồn trích và mạch lập luận của văn bản.

- Tác giả: Giong-mi Mun (Youngme Moon), giáo sư Trường Kinh doanh Harvard (Hoa Kì), nổi tiếng với các công trình về thương hiệu và cạnh tranh.
- Xuất xứ: trích từ cuốn Khác biệt – thoát khỏi bầy đàn cạnh tranh, bản dịch của Dương Ngọc Lâm, NXB Khoa học xã hội và An-pha-búc, 2017 (theo tài liệu tham khảo).
- Thể loại: văn bản nghị luận, đi từ một câu chuyện có thật mà người viết trực tiếp tham gia rồi rút ra ý kiến.
- Bố cục: ba đoạn.
- Đoạn 1 (từ đầu đến “nội quy nhà trường”): bài tập đặc biệt của thầy giáo.
- Đoạn 2 (tiếp theo đến “nể phục cậu”): cách số đông và cách J thể hiện sự khác biệt.
- Đoạn 3 (còn lại): suy ngẫm của người viết về hai loại khác biệt.
Tóm lược nội dung văn bản
Hồi trung học, người viết và các bạn nhận một bài tập lạ: trong một ngày đêm, mỗi người phải tìm cách trở nên khác biệt, miễn là không gây hại hay làm phiền ai. Sáng hôm ấy, người viết mặc đồ ngủ đến trường và nhận ra rất nhiều bạn cũng chọn cách tương tự: ăn mặc kì quái, để tóc lạ, trang điểm lố, hát hò hoặc nhào lộn để gây chú ý. Riêng cậu bạn J – vốn ít nói, chẳng nổi bật – vẫn ăn mặc như thường ngày, nhưng suốt các tiết học cậu đứng dậy phát biểu nghiêm trang, xưng hô lễ phép, hết giờ còn lên bắt tay thầy như một lời cảm ơn. Ban đầu cả lớp bật cười, nhưng đến cuối ngày, ai cũng thấy nể J. Từ đó, người viết chia sự khác biệt làm hai kiểu – vô nghĩa và có ý nghĩa – và cho rằng chỉ kiểu thứ hai mới thật sự khiến người khác chú ý và trân trọng.
Soạn bài Hai loại khác biệt – Trước khi đọc (trang 58)
Hai câu hỏi khởi động giúp em liên hệ bản thân trước khi đọc văn bản.
Câu 1: Em có muốn khác biệt so với các bạn trong lớp? (trang 58)
Em có muốn thể hiện sự khác biệt so với các bạn trong lớp hay không? Vì sao?
Trả lời:
Gợi ý: Em có muốn mình khác biệt, nhưng không phải bằng vẻ ngoài lạ mắt. Em mong được các bạn nhớ đến vì một điều tốt riêng của mình, chẳng hạn vẽ đẹp, kể chuyện hay hay luôn sẵn lòng giúp đỡ người khác. Có nét riêng như vậy giúp em tự tin hơn và biết mình có giá trị gì trong tập thể.
Câu 2: Suy nghĩ về bạn không cố tỏ ra khác biệt mà vẫn vượt trội (trang 58)
Em suy nghĩ như thế nào về một bạn không hề cố tỏ ra khác biệt, nhưng vẫn có những ưu điểm vượt trội?
Trả lời:
Em rất quý những bạn như vậy. Bạn không cần phô trương mà vẫn nổi bật nhờ năng lực và cách cư xử thật sự của mình. Điều đó cho thấy bạn khiêm tốn, chín chắn và chỉ chú tâm làm thật tốt việc của bản thân. Em muốn học theo bạn ấy hơn là học theo những người chỉ thích gây chú ý.
Soạn bài Hai loại khác biệt – Đọc văn bản (trang 58 – 60)
Các hộp chỉ dẫn bên lề (Theo dõi, Suy luận) giúp em nắm mạch câu chuyện và lập luận trong lúc đọc.
Câu 1: Bài tập thầy giáo giao nhằm mục đích gì? (trang 58)
Theo dõi: Bài tập mà giáo viên giao cho học sinh thực hiện nhằm mục đích gì?
Trả lời:
Theo lời thầy, bài tập là dịp để mỗi học sinh cho mọi người thấy con người thật của mình rõ hơn thường ngày. Đi kèm là một điều kiện duy nhất: không làm hại, không quấy rầy ai và không vi phạm nội quy.
Câu 2: Bằng chứng về sự khác biệt của số đông học sinh (trang 58)
Theo dõi: Bằng chứng thể hiện sự khác biệt của số đông học sinh trong lớp.
Trả lời:
- Nhiều bạn dùng trang phục kì quặc để thể hiện cá tính (chính người viết cũng mặc đồ ngủ đến trường).
- Có bạn để tóc lạ, có bạn bày trò với đồ trang sức hay phấn son.
- Có bạn làm những việc ồn ào để gây chú ý: mấy bạn gái dắt tay nhau đi khắp hành lang, vừa cười vừa hát như các em nhỏ, một bạn nữ nhào lộn giữa phòng ăn.
Câu 3: Bằng chứng cho thấy sự khác biệt của J (trang 59)
Theo dõi: Bằng chứng cho thấy sự khác biệt của J?
Trả lời:
- Vẻ ngoài của J không thay đổi gì so với mọi ngày.
- Mỗi lần được gọi, cậu đứng dậy trả lời, giọng chậm rãi, rõ ràng, lễ độ và chân thành.
- Cậu thưa thầy cô đúng mực, gọi bạn bè bằng anh chị.
- Hết tiết, cậu lên bắt tay thầy giáo như để cảm ơn.
Câu 4: Vì sao các bạn ngạc nhiên về J? (trang 59)
Suy luận: Vì sao các bạn học sinh trong lớp ngạc nhiên về J?
Trả lời:
- J vốn là cậu bạn trầm lặng, không kì quặc mà cũng chẳng nổi tiếng, nên không ai nghĩ cậu sẽ gây ấn tượng.
- Giữa lúc cả lớp đua nhau làm trò lạ, J lại chọn cách nghiêm túc, trân trọng từng tiết học – điều chưa ai nghĩ tới.
- Thái độ ấy lạ đến mức các bạn còn băn khoăn không biết cậu làm thật hay đùa.
Câu 5: Cách sử dụng lí lẽ để làm rõ vấn đề (trang 60)
Theo dõi: Cách sử dụng lí lẽ để làm rõ vấn đề.
Trả lời:
Sau khi kể chuyện, người viết nêu lí lẽ chính: sự khác biệt chia thành hai kiểu: kiểu vô nghĩa và kiểu có ý nghĩa. Tác giả dùng ngay câu chuyện vừa kể làm bằng chứng: lựa chọn của bản thân và đa số bạn bè (dễ dàng, không cần suy nghĩ) minh họa cho loại thứ nhất; còn cách làm của J (nghiêm túc, chững chạc, cần dũng cảm) minh họa cho loại thứ hai. Kết quả là cái nhìn của cả lớp về J thay đổi hẳn – đó là bằng chứng cho sức nặng của sự khác biệt có ý nghĩa.
Câu 6: Kết luận được người viết rút ra (trang 60)
Theo dõi: Kết luận nào được người viết rút ra sau khi trình bày lí lẽ và bằng chứng?
Trả lời:
Kết luận: những người tìm cách gây chú ý bằng trò ồn ào, dễ dãi rốt cuộc sẽ bị chúng ta lướt qua, vì thật ra họ chẳng khác ai. Chỉ những người khác biệt một cách có ý nghĩa mới được chú ý và được xem là khác biệt thật sự.
Soạn bài Hai loại khác biệt – Sau khi đọc (trang 61)
Sáu câu hỏi đọc hiểu giúp em hiểu cách lập luận và bài học của văn bản.
Câu 1: Kể chuyện hay rút ra bài học quan trọng hơn? (trang 61)
Văn bản có kể một câu chuyện mà tác giả là người trong cuộc. Theo em, giữa việc kể lại câu chuyện và rút ra bài học từ câu chuyện, điều nào quan trọng hơn? Căn cứ vào đâu mà em xác định như vậy?
Trả lời:
Rút ra bài học quan trọng hơn. Căn cứ:
- Nhan đề Hai loại khác biệt chính là nội dung của bài học, không phải tên câu chuyện.
- Câu chuyện chỉ được kể đủ để làm bằng chứng; người viết còn không nhớ rõ đó là tiết học môn gì và gọi nhân vật bằng một chữ cái J – chi tiết cụ thể không phải điều cốt yếu.
- Hai đoạn cuối dành hẳn cho việc phân tích, khái quát thành bài học chung cho mọi người.
Câu 2: Sự khác nhau giữa cách thể hiện của số đông và của J (trang 61)
Việc thể hiện sự khác biệt của số đông các bạn trong lớp và của J hoàn toàn khác nhau. Sự khác nhau ấy biểu hiện cụ thể như thế nào?
Trả lời:
| Phương diện | Số đông các bạn | J |
|---|---|---|
| Vẻ ngoài | Quần áo kì dị, tóc lạ, trang sức, phấn son lố lăng. | Giữ nguyên dáng vẻ thường ngày. |
| Hành động | Hát hò, nhào lộn, làm trò ồn ào. | Phát biểu nghiêm trang, xưng hô lễ phép, bắt tay cảm ơn thầy. |
| Cách nghĩ | Chọn cách dễ nhất, không cần suy nghĩ. | Hiểu mình đang làm gì, làm đến nơi đến chốn. |
| Kết quả | Không ai nhớ, vì ai cũng giống ai. | Được cả lớp nể phục. |
Câu 3: Đi từ thực tế đến bàn luận hay ngược lại? (trang 61)
Trong văn bản này, tác giả đi từ thực tế để rút ra điều cần bàn luận hay nêu điều cần bàn trước, sau đó mới đưa ra bằng chứng từ thực tế để chứng minh? Hãy nhận xét về sự lựa chọn cách triển khai này.
Trả lời:
- Người viết xuất phát từ thực tế: kể trọn câu chuyện về bài tập 24 giờ trước, rồi mới nêu ý kiến về hai loại khác biệt.
- Nhận xét: cách triển khai này tự nhiên, hấp dẫn. Người đọc bị cuốn vào câu chuyện, tự mình cảm nhận sự thay đổi thái độ với J, nên khi đọc đến phần bàn luận thì dễ đồng tình. Bài nghị luận nhờ vậy nhẹ nhàng, gần gũi, không giống lời giảng giải khô khan.
Câu 4: Em có đồng tình với cách chia hai loại khác biệt? (trang 61)
Tác giả phân chia sự khác biệt thành hai loại: sự “khác biệt vô nghĩa” (qua cách thể hiện của số đông các bạn trong lớp) và sự “khác biệt có ý nghĩa” (qua cách thể hiện của J). Em có đồng tình với cách phân chia như thế không? Vì sao?
Trả lời:
Em đồng tình. Khác biệt vô nghĩa chỉ là thay đổi bề ngoài, ai muốn cũng làm được, nên khi nhiều người cùng làm thì nó lại thành giống nhau. Khác biệt có ý nghĩa xuất phát từ suy nghĩ, thái độ và hành động có giá trị, đòi hỏi sự nghiêm túc và cả lòng can đảm, vì thế mới để lại ấn tượng lâu dài. Cách chia này giúp em biết nên đầu tư vào điều gì khi muốn khẳng định bản thân.
Câu 5: Vì sao số đông chọn khác biệt vô nghĩa? Cần phẩm chất gì để khác biệt có ý nghĩa? (trang 61)
Do đâu số đông thường thể hiện sự khác biệt vô nghĩa? Muốn tạo ra sự khác biệt có ý nghĩa, con người cần có những năng lực và phẩm chất gì?
Trả lời:
- Lí do số đông chọn khác biệt vô nghĩa: đó là cách nhanh, dễ, không tốn công suy nghĩ; chỉ cần thay quần áo hay làm trò là được chú ý ngay. Nhiều người lại hay bắt chước nhau, thấy bạn làm gì cũng làm theo.
- Năng lực, phẩm chất cần có để khác biệt có ý nghĩa: hiểu biết và biết phân biệt điều có giá trị; sự nghiêm túc, kiên trì; lòng tự tin và bản lĩnh để không ngại bị cười; thái độ tôn trọng người khác; năng lực thật sự trong học tập, công việc.
Câu 6: Bài học chỉ có giá trị với học sinh? (trang 61)
Theo em, bài học về sự khác biệt được rút ra từ văn bản này có phải chỉ có giá trị đối với lứa tuổi học sinh hay không? Vì sao?
Trả lời:
Không. Câu chuyện diễn ra ở trường học, nhưng bài học đúng với mọi lứa tuổi. Người lớn đi làm, doanh nghiệp làm sản phẩm hay một nghệ sĩ biểu diễn đều muốn được chú ý; nếu chỉ chạy theo cái lạ bề ngoài, họ sẽ nhanh chóng bị lãng quên. Chính tác giả – một giáo sư kinh doanh – đã đưa câu chuyện này vào một cuốn sách viết cho người trưởng thành, cho thấy bài học có giá trị với bất kì ai.
Soạn bài Hai loại khác biệt – Viết kết nối với đọc (trang 61)
Đề bài: Với câu mở đầu Tôi không muốn khác biệt vô nghĩa…, hãy viết tiếp 5 – 7 câu để hoàn thành một đoạn văn.
Gợi ý cách viết: giữ nguyên câu mở đầu; giải thích ngắn thế nào là khác biệt vô nghĩa; nêu sự khác biệt có ý nghĩa mà em muốn hướng tới; kết đoạn bằng hành động cụ thể của bản thân.
Đoạn văn mẫu 1
Tôi không muốn khác biệt vô nghĩa. Nhuộm một lọn tóc màu xanh hay khoác chiếc áo thật lòe loẹt có thể khiến cả lớp quay lại nhìn tôi trong vài phút, nhưng rồi ai cũng sẽ quên ngay. Tôi muốn người khác nhớ đến mình vì những điều tốt đẹp hơn thế. Tôi mong mình là người luôn hoàn thành bài tập đúng hạn, dám giơ tay nêu ý kiến riêng và biết lắng nghe khi bạn bè cần chia sẻ. Những việc ấy không ồn ào, cũng chẳng dễ làm chút nào, vì phải kiên trì từng ngày. Nhưng như cậu bạn J trong bài đọc, sự nghiêm túc và chân thành mới là điều khiến người khác thật lòng nể phục. Từ hôm nay, tôi sẽ bắt đầu bằng việc chuẩn bị bài thật kĩ trước mỗi buổi học.
Đoạn văn mẫu 2
Tôi không muốn khác biệt vô nghĩa. Ở tuổi chúng tôi, nhiều bạn nghĩ rằng cứ ăn mặc khác người, nói năng sốc hay làm trò lạ là thể hiện được cá tính. Nhưng những thứ dễ bắt chước như vậy thì chẳng làm ai đặc biệt cả. Điều tôi muốn là một nét riêng có giá trị: một năng khiếu được rèn luyện đến nơi đến chốn, một cách cư xử tử tế mà mọi người tin cậy. Muốn thế, tôi phải hiểu mình mạnh ở đâu, yếu ở đâu và chịu khó luyện tập. Tôi đã chọn môn cờ vua, mỗi tối dành ba mươi phút để học thêm một thế cờ mới. Biết đâu một ngày, chính sự bền bỉ ấy sẽ làm nên điểm khác biệt của tôi.
Kết luận
Qua bài soạn, em hiểu Hai loại khác biệt là bài nghị luận đi từ một câu chuyện cụ thể đến một bài học khái quát: khác biệt bề ngoài thì dễ nhưng vô nghĩa, còn khác biệt từ suy nghĩ và hành động có giá trị mới khiến người khác trân trọng. Đây cũng là gợi ý để em tự rèn luyện, tìm nét riêng tích cực của bản thân.
Xem thêm: