Lập luận là cách đưa ra lí lẽ và bằng chứng, sắp xếp chúng theo một trình tự hợp lí để dẫn người nghe, người đọc tới một kết luận mà người nói, người viết muốn họ chấp nhận. Hiểu theo nghĩa thường ngày, lập luận là “lí sự cho ra nhẽ”; trong văn nghị luận, đó là sợi dây nối luận điểm với luận cứ. Bài này đi từ khái niệm, dấu hiệu nhận biết đến thao tác lập luận và bài tập có đáp án.
| Khái niệm | Đưa ra và sắp xếp lí lẽ, bằng chứng để dẫn tới một kết luận |
| Nghĩa thường ngày | Trình bày lí lẽ có hệ thống để bảo vệ một ý kiến; “một lập luận” là một chuỗi lí lẽ như thế |
| Thuộc | Kiến thức làm văn, đọc hiểu văn bản nghị luận (THCS, THPT) |
| Dấu hiệu nhận biết | Có kết luận rõ, có lí lẽ, bằng chứng đỡ cho kết luận, có từ nối chỉ quan hệ lí do – kết quả |
| Thước đo | Chặt chẽ (lí lẽ không mâu thuẫn) và thuyết phục (bằng chứng xác thực) |

Lập luận: đi từ lí lẽ đến kết luận
Hãy bắt đầu bằng một câu rất đời: “Trời sắp mưa, đường lại đang sửa, nên mình đi sớm mười lăm phút.” Trong câu ấy có đủ ba thứ. Kết luận là đi sớm. Hai lí do là trời sắp mưa và đường đang sửa. Còn chữ nên là chỗ người nói nối lí do với kết luận. Bất kì lập luận nào, dài đến mấy trang, cũng dựng trên khung đó.
Từ điển tiếng Việt định nghĩa lập luận là sắp xếp lí lẽ một cách có hệ thống để trình bày, nhằm chứng minh cho một kết luận về một vấn đề; ví dụ quen thuộc là “lập luận thiếu chặt chẽ”. Như vậy từ này dùng được cả như động từ (biết cách lập luận) lẫn danh từ (một lập luận đáng chú ý).
Ở nhà trường, sách Ngữ văn 10 chương trình cũ có hẳn một bài “Lập luận trong văn nghị luận”, hiểu lập luận là đưa ra lí lẽ, bằng chứng để dẫn dắt người đọc tới kết luận người viết muốn đạt tới. Sách theo chương trình mới không học tách một bài như vậy, nhưng khung ý kiến – lí lẽ – bằng chứng ở lớp 6, 7 và luận đề – luận điểm ở các lớp trên thực chất là các bộ phận của một lập luận. Phần “làm chứng” ấy được tách kĩ hơn trong bài luận điểm, luận cứ và mối liên hệ với lập luận.
Lập luận khác lí lẽ, luận điểm và lời khẳng định
Bốn chữ này hay bị dùng lẫn, nhất là khi đề đọc hiểu hỏi “chỉ ra cách lập luận của tác giả”. Bảng dưới tách từng thứ.
| Khái niệm | Là gì | Ví dụ ngắn |
|---|---|---|
| Luận điểm | Ý kiến, nhận định cần được chứng minh | Học sinh nên ngủ đủ giấc |
| Lí lẽ | Lời giải thích vì sao ý kiến đúng | Thiếu ngủ làm giảm khả năng ghi nhớ |
| Bằng chứng | Sự việc, số liệu, trích dẫn có thể kiểm chứng | Kết quả bài kiểm tra của lớp sau tuần ôn thi thức khuya |
| Lập luận | Cả cách sắp xếp, nối lí lẽ và bằng chứng để đi tới kết luận | Nêu ý kiến → giải thích → dẫn chứng → bác ý trái chiều → kết luận |
| Lời khẳng định suông | Chỉ có kết luận, không có gì đỡ phía dưới | “Ngủ ít mới là chăm học” |
Cách nhớ nhanh: luận điểm, lí lẽ, bằng chứng là vật liệu; lập luận là cách xây. Cùng một đống gạch, người xây vụng có thể dựng nên bức tường nghiêng. Muốn ôn riêng phần lí lẽ, có bài phân biệt lí lẽ với ý kiến và bằng chứng.
Bốn dấu hiệu của một đoạn có lập luận
- Có một kết luận người viết muốn bảo vệ. Đoạn chỉ kể hay tả thì không cần lập luận.
- Có ít nhất một lí do đỡ cho kết luận. Thường đi kèm từ vì, bởi, do, sở dĩ.
- Có từ nối chỉ hướng suy luận: vì vậy, cho nên, do đó, rõ ràng, như thế, trái lại, tuy… nhưng.
- Có trình tự. Câu sau dựa vào câu trước; đảo lộn thứ tự là đoạn văn mất mạch.
Một lập luận tốt còn phải qua được hai câu hỏi kiểm tra. Thứ nhất, lí lẽ có mâu thuẫn nhau không (tính chặt chẽ)? Thứ hai, bằng chứng có thật và đủ tiêu biểu không (tính thuyết phục)? Lập luận chỉ có một ví dụ cá biệt rồi kết luận cho tất cả thường hỏng ở câu hỏi thứ hai.
Những lập luận nghe xuôi tai mà sai từ gốc, như vơ đũa cả nắm từ một ví dụ lẻ, được gọi chung là ngụy biện; các kiểu ngụy biện hay gặp được phân tích kèm ví dụ.
Thao tác lập luận và cách sắp xếp lí lẽ
Học sinh hay gặp hai cách chia khác nhau, đừng trộn vào nhau.
Thao tác lập luận: việc người viết làm với vấn đề
Chương trình cũ dạy sáu thao tác: giải thích, chứng minh, phân tích, so sánh, bình luận, bác bỏ. Một bài nghị luận thường phối hợp vài thao tác. Ví dụ bàn về thói quen đọc sách: giải thích “đọc sách” là gì, phân tích lợi ích, so sánh với xem video ngắn, bác bỏ ý “có mạng rồi thì cần gì sách”. Riêng thao tác phân tích được giảng kĩ ở bài phân tích như một thao tác của văn nghị luận.
Cách sắp xếp: vị trí của lí lẽ trong đoạn
- Diễn dịch: kết luận đứng đầu đoạn, lí lẽ và bằng chứng theo sau.
- Quy nạp: đi từ các trường hợp cụ thể, kết luận đặt cuối đoạn.
- Tổng – phân – hợp: nêu ý chung, triển khai, rồi chốt lại ở mức cao hơn.
- Nhân quả: đi từ nguyên nhân tới hệ quả, hoặc ngược lại.
Lập luận trong Nước Đại Việt ta và Tinh thần yêu nước của nhân dân ta
Nguyễn Trãi dựng tiền đề trước khi kết tội
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.
Hai câu mở đầu (bản dịch Ngô Tất Tố) là tiền đề của cả bài cáo: đã gọi là nhân nghĩa thì phải lo cho dân yên, phải trừ kẻ tàn bạo. Tiếp đó Nguyễn Trãi chứng minh nước Đại Việt có văn hiến, có núi sông bờ cõi, có phong tục và các triều đại riêng, rồi dẫn những lần quân phương Bắc thất bại làm bằng chứng. Khi tiền đề đã được chấp nhận, kết luận “đánh giặc Minh là việc chính nghĩa” gần như tự đứng vững. Đây là kiểu lập luận đi từ chân lí chung xuống trường hợp cụ thể. Có thể đối chiếu với phần soạn đoạn trích mở đầu Bình Ngô đại cáo.
Hồ Chí Minh đi từ nhận định tới bằng chứng hai thời
Bài văn mở bằng một nhận định ngắn về lòng nồng nàn yêu nước của dân ta, rồi đưa bằng chứng theo hai lớp: các cuộc kháng chiến trong lịch sử và những con người cụ thể trong cuộc kháng chiến đương thời, từ cụ già đến cháu nhi đồng, từ tiền tuyến đến hậu phương. Các bằng chứng được xếp theo trình tự thời gian và theo kiểu liệt kê “từ… đến…”, nên người đọc thấy lòng yêu nước có mặt ở mọi lứa tuổi, mọi nơi. Phần cuối chuyển từ chứng minh sang kêu gọi hành động. Bố cục ấy được phân tích trong hướng dẫn đọc văn bản Tinh thần yêu nước.
Tập nhận ra và sửa lập luận: bốn câu có đáp án
Câu 1: Đoạn kể chuyến tham quan bảo tàng có lập luận không?
“Chiều qua lớp em đi tham quan bảo tàng. Xe xuất phát lúc hai giờ, đến nơi lúc ba giờ.”
Đáp án: Không. Đoạn văn chỉ kể sự việc theo thời gian, không có kết luận nào cần bảo vệ và không có lí lẽ.
Câu 2: Trong đoạn bàn về góc sách, đâu là kết luận, đâu là lí lẽ?
“Mỗi lớp nên có một góc sách. Sách đặt ngay trong lớp thì giờ ra chơi bạn nào cũng với tới được. Năm ngoái lớp 7A làm thử, số bạn mượn sách tăng gấp đôi.”
Đáp án: Kết luận: mỗi lớp nên có một góc sách. Lí lẽ: sách ở gần thì dễ đọc. Bằng chứng: kết quả làm thử ở lớp 7A. Đoạn văn lập luận theo lối diễn dịch, kết luận đứng đầu.
Câu 3: Lập luận “bỏ học vẫn giàu” hỏng ở đâu?
“Anh họ tớ bỏ học vẫn giàu, vậy học đại học là vô ích.”
Đáp án: Bằng chứng chỉ là một trường hợp cá biệt, không đủ để kết luận cho mọi người. Lập luận cũng trộn hai chuyện khác nhau: “giàu” và “có ích”. Học đại học có thể có ích ở kiến thức, nghề nghiệp, các mối quan hệ, chứ không chỉ ở tiền bạc.
Câu 4: Sắp xếp ba câu sau thành một đoạn quy nạp
(a) Vì vậy, tự học là kĩ năng cần rèn từ sớm. (b) Thầy cô chỉ ở trên lớp vài tiết mỗi ngày. (c) Phần lớn bài tập phải tự làm ở nhà.
Đáp án: (b) → (c) → (a). Hai câu đầu là các dữ kiện cụ thể, câu (a) là kết luận rút ra nên đặt cuối, mở bằng “Vì vậy”.
Lập luận chặt, lập luận lỏng và những tên gọi kèm theo
Lập luận nghĩa là gì trong nói chuyện hằng ngày?
Là đưa lí do ra để người khác đồng ý với mình, thay vì chỉ khẳng định. Nói “Con muốn đi học thêm tiếng Anh vì học kì sau có bài thi nói” là một lập luận nhỏ; nói “Con muốn đi” thì chưa.
Thao tác lập luận là gì?
Là những cách xử lí vấn đề khi viết nghị luận: giải thích, chứng minh, phân tích, so sánh, bình luận, bác bỏ. Thao tác là việc người viết làm; lập luận là toàn bộ con đường đi từ vấn đề tới kết luận.
Thế nào là lập luận chặt chẽ?
Là khi các lí lẽ không mâu thuẫn nhau, mỗi bước dựa đúng vào bước trước, khái niệm dùng ở đầu và cuối vẫn mang một nghĩa, bằng chứng đủ và đúng. Thiếu một trong các điều đó, người đọc sẽ thấy chỗ hở để phản bác.
Lập luận tiếng Anh là gì?
Danh từ thường dịch là argument hoặc reasoning; động từ “lập luận rằng” là argue that. Trong tiếng Anh học thuật, argument không có nghĩa cãi nhau mà là một chuỗi lí lẽ dẫn tới kết luận.