Rô-mê-ô và Giu-li-ét là vở bi kịch nổi tiếng nhất về tình yêu của Uy-li-am Sếch-xpia. Cảnh gặp gỡ trong vườn nhà Ca-piu-lét (hồi II, cảnh 2) được học ở Bài 5 sách Ngữ văn 9 Kết nối tri thức với nhan đề Rô-mê-ô và Giu-li-ét (trích), và ở Bài 9 sách Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo với nhan đề Tình yêu và thù hận. Bài viết tổng hợp thông tin về tác giả, vở kịch, đoạn trích, bố cục, giá trị nội dung, nghệ thuật, kèm sơ đồ tư duy.

Nội dung đoạn trích Rô-mê-ô và Giu-li-ét (Tình yêu và thù hận)
Đêm sau buổi dạ hội ở nhà Ca-piu-lét, Rô-mê-ô, chàng trai thuộc dòng họ Môn-ta-ghiu, trèo tường vào khu vườn của gia đình kẻ thù. Thấy Giu-li-ét xuất hiện bên cửa sổ, chàng say sưa ngắm nàng và ví nàng với mặt trời. Giu-li-ét tưởng chỉ có một mình, thổ lộ tình yêu với Rô-mê-ô và mong chàng rũ bỏ tên họ, vì theo nàng, cái tên chẳng làm nên con người: “Chỉ có tên họ chàng là thù địch của em thôi.”
Nghe vậy, Rô-mê-ô lên tiếng, sẵn sàng từ bỏ tên mình nếu nàng muốn. Giu-li-ét vừa mừng vừa lo, hỏi chàng làm sao vào được đây giữa nơi nguy hiểm. Rô-mê-ô khẳng định tình yêu đã chắp cánh cho chàng vượt bức tường cao, và ánh mắt nàng còn đáng sợ hơn mọi lưỡi kiếm của người nhà Ca-piu-lét. Đoạn trích như một khúc hát yêu đương say đắm, cất lên giữa không khí hận thù của hai dòng họ. Lời giải chi tiết theo từng bộ sách có trong bài Soạn bài Rô-mê-ô và Giu-li-ét và Soạn bài Tình yêu và thù hận.
Thông tin tác giả Uy-li-am Sếch-xpia
Uy-li-am Sếch-xpia (William Shakespeare, 1564 – 1616) sinh tại thị trấn Xtrát-phớt trên sông Ây-vơn (Stratford-upon-Avon), nước Anh, trong một gia đình buôn bán. Khi gia đình sa sút, ông thôi học sớm. Khoảng cuối những năm 1580, ông lên Luân Đôn, làm việc trong các đoàn kịch, vừa diễn xuất vừa viết kịch, rồi trở thành một trong những người góp vốn của đoàn kịch nổi tiếng và nhà hát Địa Cầu (The Globe).
Sếch-xpia để lại khoảng 37 vở kịch và 154 bài thơ xô-nê, gồm ba mảng lớn: hài kịch (Giấc mộng đêm hè, Người lái buôn thành Vơ-ni-dơ…), kịch lịch sử (về các triều vua Anh), và đặc biệt là bi kịch (Rô-mê-ô và Giu-li-ét, Ham-lét, Ô-ten-lô, Vua Lia, Mác-bét). Tác phẩm của ông thấm đẫm tinh thần nhân văn thời Phục hưng: tin vào con người, đề cao tình yêu, lên án cái ác, cái bất công.
Ông được coi là nhà viết kịch vĩ đại nhất nước Anh và là một trong những tác giả có ảnh hưởng lớn nhất thế giới. Ngôn ngữ kịch của ông phong phú, giàu hình ảnh, nhiều câu thoại đã trở thành thành ngữ, danh ngôn. Đọc thêm: Những tác phẩm nổi tiếng của Shakespeare và Sống, hay không sống – đó là vấn đề (trích Ham-lét).
Thông tin tác phẩm Rô-mê-ô và Giu-li-ét
Những mục dưới đây trả lời các câu hỏi thường gặp về vở kịch và đoạn trích.
Hoàn cảnh sáng tác vở kịch Rô-mê-ô và Giu-li-ét
Vở kịch được viết khoảng năm 1594 – 1595, in lần đầu năm 1597, có năm hồi, lời kịch phần lớn là thơ, xen một số đoạn văn xuôi. Sếch-xpia dựa vào một câu chuyện tình bi thương ở thành Vê-rô-na (I-ta-li-a) vốn được kể trong văn học Ý, đến với nước Anh qua bản truyện thơ của Ác-thơ Brúc (Arthur Brooke) năm 1562. Từ chất liệu ấy, ông tạo nên một bi kịch mang tinh thần nhân văn sâu sắc.
Xuất xứ và nhan đề đoạn trích
- Đoạn trích thuộc hồi II, cảnh 2 (cảnh ở vườn nhà Ca-piu-lét), thường được gọi là “cảnh ban công”.
- Sách Kết nối tri thức giữ tên vở kịch: Rô-mê-ô và Giu-li-ét (trích). Sách Chân trời sáng tạo đặt nhan đề Tình yêu và thù hận, gợi ngay xung đột trung tâm của đoạn trích.
- Hai bộ sách dùng hai bản dịch khác nhau nên câu chữ có chỗ khác biệt, nhưng nội dung cảnh kịch là một.
Thể loại, xung đột kịch
- Thể loại: bi kịch.
- Xung đột chính: tình yêu tự do, trong sáng của đôi trẻ với mối thù truyền kiếp giữa hai dòng họ Môn-ta-ghiu và Ca-piu-lét.
- Hình thức thoại: độc thoại, đối thoại và lời nói riêng (bàng thoại); chỉ dẫn sân khấu ngắn gọn.
Bố cục đoạn trích có mấy phần?
Đoạn trích có thể chia làm 2 phần:
- Phần 1 (từ đầu đến khi Rô-mê-ô lên tiếng): những lời độc thoại của Rô-mê-ô và Giu-li-ét, bộc lộ tình yêu thầm kín và nỗi day dứt về tên họ.
- Phần 2 (còn lại): cuộc đối thoại của hai người, khẳng định tình yêu bất chấp hiểm nguy và hận thù.
Giá trị nội dung
Đoạn trích ngợi ca một tình yêu thuần khiết, mãnh liệt của Rô-mê-ô và Giu-li-ét, một tình yêu dám vượt lên hận thù dòng tộc và những ràng buộc của xã hội phong kiến. Qua đó, Sếch-xpia khẳng định giá trị con người cá nhân, quyền được yêu và được hạnh phúc, đồng thời lên án hận thù vô lí đã chia cắt con người.
Giá trị nghệ thuật
- Lời thoại giàu chất thơ, nhiều hình ảnh so sánh, ẩn dụ lãng mạn (mặt trời, vì sao, bông hồng, đôi cánh tình yêu).
- Kết hợp linh hoạt độc thoại và đối thoại để khắc họa nội tâm nhân vật.
- Xung đột kịch được thể hiện tinh tế qua lời thoại và hình ảnh biểu tượng (cái tên, bức tường, lưỡi kiếm).
- Ngôn ngữ phù hợp tính cách: Rô-mê-ô cuồng nhiệt, bay bổng; Giu-li-ét thẳng thắn, sâu sắc mà tỉnh táo.
Sơ đồ tư duy Rô-mê-ô và Giu-li-ét
Sơ đồ dưới đây tóm gọn các ý chính để em ôn tập.

Tóm tắt Rô-mê-ô và Giu-li-ét
Hai mẫu dưới đây giúp em nắm nhanh đoạn trích và toàn bộ vở kịch. Nhiều mẫu khác có trong bài Tóm tắt Rô-mê-ô và Giu-li-ét.
Mẫu 1 – Tóm tắt đoạn trích ngắn nhất
Đêm sau dạ hội, Rô-mê-ô lén vào vườn nhà Ca-piu-lét và nghe Giu-li-ét bày tỏ tình yêu, mong chàng bỏ tên họ thù địch. Chàng lên tiếng đáp lại, hai người thổ lộ tình cảm say đắm, bất chấp hiểm nguy và mối thù giữa hai gia đình.
Mẫu 2 – Tóm tắt cốt truyện vở kịch
Ở thành Vê-rô-na, hai dòng họ Môn-ta-ghiu và Ca-piu-lét thù hận nhau từ lâu. Rô-mê-ô nhà Môn-ta-ghiu tình cờ dự dạ hội nhà Ca-piu-lét và đem lòng yêu Giu-li-ét. Hai người bí mật cưới nhau nhờ tu sĩ Lô-rân. Ít lâu sau, trong một cuộc ẩu đả, Rô-mê-ô giết Ti-bân, anh họ Giu-li-ét, và bị trục xuất khỏi thành. Gia đình ép Giu-li-ét lấy bá tước Pa-rít; nàng uống thuốc ngủ để giả chết. Tin nhắn của tu sĩ không đến được tay Rô-mê-ô; chàng tưởng người yêu chết thật, tìm đến hầm mộ và uống thuốc độc. Giu-li-ét tỉnh lại, thấy chàng đã chết, liền tự đâm mình. Đứng trước cái chết của đôi trẻ, hai dòng họ hối hận và làm lành.
Lời kết
Rô-mê-ô và Giu-li-ét đã trở thành biểu tượng muôn đời của tình yêu. Khi học đoạn trích, em cần nắm xung đột giữa tình yêu và hận thù, vai trò của các hình thức lời thoại và tinh thần nhân văn của Sếch-xpia.
Đến tuần ôn tập, em có thể mở hệ thống kiến thức học kì II lớp 11 sách Cánh diều để làm lại các câu hỏi cuối kì trong sách.
Ở nhà, phần hướng dẫn soạn Thề nguyền và vĩnh biệt Ngữ văn 11 Cánh diều giúp em đi lần lượt qua từng yêu cầu của sách trước giờ lên lớp.
Xem thêm: