Sách Ngữ văn 11 tập hai khép lại bằng một đoạn diễn từ Nô-ben xoay quanh ba chữ tôi không biết của nhà thơ Ba Lan Vi-xoáp-va Sim-bô-xca. Chọn văn bản ấy cho tiết ôn tập cuối năm, người biên soạn như nhắc học sinh rằng sau Nguyễn Du, sau những trang kí, những văn bản thông tin và những lựa chọn của Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Đình Chiểu, điều đáng giữ nhất là thói quen tự hỏi. Trang này soạn trọn phần Ôn tập học kì II Ngữ văn 11 Kết nối tri thức (trang 122–125): 6 câu hệ thống hoá kiến thức, 6 câu đọc hiểu, 3 đề viết và 3 nội dung nói và nghe. Bảng hệ thống văn bản được đặt lên đầu để em có cái nhìn chung trước khi trả lời từng câu; cuối trang có đề kiểm tra tham khảo với ngữ liệu là một bài bút kí tự viết. Mục lục đầy đủ của bộ sách: Ngữ văn 11 Kết nối tri thức.

Hệ thống văn bản đọc học kì II Ngữ văn 11 Kết nối tri thức
Mỗi bài học là một hàng; cột thứ hai liệt kê văn bản đọc chính (bấm để mở bài soạn), cột cuối ghi điều cần ôn kĩ nhất của bài đó.
| Bài | Văn bản đọc chính – tác giả | Loại, thể loại | Trọng tâm khi ôn |
|---|---|---|---|
| 6. Nguyễn Du – “Những điều trông thấy mà đau đớn lòng” | Tác gia Nguyễn Du; Trao duyên (trích Truyện Kiều); Độc Tiểu Thanh kí | Văn bản thông tin về tác gia; truyện thơ Nôm (lục bát); thơ chữ Hán thất ngôn bát cú | Cảm hứng nhân đạo của Nguyễn Du; độc thoại nội tâm của Kiều; câu hỏi về số phận người tài hoa trong Độc Tiểu Thanh kí; giao lưu và sáng tạo trong văn học trung đại. |
| 7. Ghi chép và tưởng tượng trong kí | Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Hoàng Phủ Ngọc Tường); “Và tôi vẫn muốn mẹ…” (Xvét-la-na A-lếch-xi-ê-vích); Cà Mau quê xứ (Trần Tuấn) | Kí: tuỳ bút, bút kí; kí ghi lời nhân chứng; tản văn | Tự sự và trữ tình đan nhau; ranh giới phi hư cấu – hư cấu; cái tôi tác giả trong mỗi tiểu loại. |
| 8. Cấu trúc của văn bản thông tin | Nữ phóng viên đầu tiên (Trần Nhật Vy); Trí thông minh nhân tạo (Ri-sát Oát-xơn); Pa-ra-lim-pích (Paralympic): Một lịch sử chữa lành những vết thương (Huy Đăng) | Văn bản thông tin | Nhan đề, đề mục, sa-pô; chủ đề, ý chính, ý phụ; bốn mô hình tổ chức thông tin; mục đích, quan điểm của người viết. |
| 9. Lựa chọn và hành động | Bài ca ngất ngưởng (Nguyễn Công Trứ); Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu); Cộng đồng và cá thể (An-be Anh-xtanh) | Hát nói; văn tế; nghị luận | Văn bản có nhiều chủ đề (chính, phụ); lựa chọn sống của cá nhân trước thời cuộc và cộng đồng. |
Thực hành đọc ở mục Củng cố, mở rộng: Chí khí anh hùng (trích Truyện Kiều) và Mộng đắc thái liên (Nguyễn Du); Cây diêm cuối cùng (Cao Huy Thuần); Ca nhạc ở miệt vườn (Sơn Nam); “Làm việc” cũng là “làm người” (Giản Tư Trung).
Soạn bài Ôn tập học kì II Ngữ văn 11 Kết nối tri thức (trang 122–125)
Ba yêu cầu sách đặt ra: hệ thống hoá được kiến thức tập hai; củng cố kĩ năng đọc, viết, nói và nghe qua các nhiệm vụ cụ thể; vận dụng tổng hợp để giải quyết bài tập. Phần đọc hiểu lần này là một văn bản nghị luận của nhà thơ, nên rất hợp để thử lại các kiến thức về luận đề, bằng chứng, mạch lạc đã học từ tập một.
I. Hệ thống hoá kiến thức đã học (trang 122)
Câu 1 (trang 122): Sơ đồ hoá danh mục loại, thể loại văn bản và nhan đề
Sơ đồ hoá danh mục loại, thể loại văn bản đã học trong sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập hai. Nêu nhan đề những văn bản cụ thể thuộc các loại, thể loại ấy.
Trả lời:
Sơ đồ dưới đây vẽ theo dạng cây ba tầng: loại văn bản, thể loại, nhan đề (* là văn bản thực hành đọc). Khi vẽ trên giấy, có thể đặt “Ngữ văn 11, tập hai” ở giữa và tỏa ra ba nhánh màu khác nhau.
- VĂN BẢN VĂN HỌC
- Truyện thơ Nôm → Trao duyên; Chí khí anh hùng*
- Thơ chữ Hán → Độc Tiểu Thanh kí; Mộng đắc thái liên*
- Hát nói → Bài ca ngất ngưởng
- Văn tế → Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc
- Kí
- Tuỳ bút, bút kí → Ai đã đặt tên cho dòng sông?
- Kí ghi lời nhân chứng (phi hư cấu) → “Và tôi vẫn muốn mẹ…”
- Tản văn → Cà Mau quê xứ; Cây diêm cuối cùng*
- VĂN BẢN THÔNG TIN → Tác gia Nguyễn Du; Nữ phóng viên đầu tiên; Trí thông minh nhân tạo; Pa-ra-lim-pích (Paralympic): Một lịch sử chữa lành những vết thương; Ca nhạc ở miệt vườn*
- VĂN BẢN NGHỊ LUẬN → Cộng đồng và cá thể; “Làm việc” cũng là “làm người”*
Hai điểm hay bị xếp nhầm: văn tế được học như một thể loại văn học trung đại (có yếu tố trữ tình rất đậm) chứ không xếp vào nghị luận; Tác gia Nguyễn Du là văn bản giới thiệu một tác gia, không phải bài nghị luận văn học.
Câu 2 (trang 122): Bảng phân loại kiến thức cốt lõi trong Tri thức ngữ văn
Lập bảng phân loại những đơn vị kiến thức cốt lõi được trình bày trong phần Tri thức ngữ văn của mỗi bài học trong sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập hai theo từng nhóm: kiến thức chung về loại, thể loại; kiến thức về các yếu tố cấu thành văn bản thuộc từng loại, thể loại; kiến thức về lịch sử văn học; kiến thức tiếng Việt.
Trả lời:
| Nhóm kiến thức | Bài 6 | Bài 7 | Bài 8 | Bài 9 |
|---|---|---|---|---|
| Chung về loại, thể loại | Truyện thơ Nôm (bình dân, bác học) | Kí và các tiểu loại: tuỳ bút, tản văn, truyện kí… | Văn bản thông tin và các dấu hiệu hình thức | Văn bản văn học có nhiều chủ đề |
| Yếu tố cấu thành văn bản | Cốt truyện (gặp gỡ – chia li – đoàn tụ), nhân vật, người kể chuyện, độc thoại nội tâm, bút pháp miêu tả, ngôn ngữ | Tự sự và trữ tình trong tuỳ bút, tản văn; phi hư cấu và hư cấu trong truyện kí | Nhan đề, đề mục, chữ in đậm, phương tiện phi ngôn ngữ; chủ đề, ý chính, ý phụ; bố cục, mạch lạc; cách trình bày dữ liệu (thời gian, nhân quả, tầm quan trọng, so sánh – tương phản); mục đích, quan điểm người viết | Chủ đề chính, chủ đề phụ; chủ đề mang tính dân tộc và chủ đề phổ quát |
| Lịch sử văn học | Giao lưu và sáng tạo trong văn học trung đại Việt Nam | Không có mục riêng; được lồng vào việc đọc tác phẩm (hát nói, văn tế cuối thời trung đại) | ||
| Tiếng Việt | Biện pháp tu từ lặp cấu trúc, biện pháp tu từ đối | Hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường (tiếp theo) | Sử dụng phương tiện phi ngôn ngữ | Một số cách giải thích nghĩa của từ |
Nhìn bảng sẽ thấy nhóm kiến thức về yếu tố cấu thành văn bản dày nhất; đó cũng là nhóm đề kiểm tra hay khai thác.
Câu 3 (trang 122): So sánh Bài 6 lớp 11 với Bài 6 lớp 10 để nhận ra đặc điểm bài học về tác gia
Nêu nhận xét về nội dung Bài 6 (Nguyễn Du – “Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”) trong sự so sánh với Bài 6 (Nguyễn Trãi – “Dành còn để trợ dân này”) ở sách giáo khoa Ngữ văn 10, tập hai để nhận ra đặc điểm và yêu cầu riêng của loại bài học về tác gia văn học.
Trả lời:
| Phương diện | Bài 6 lớp 10 (Nguyễn Trãi) | Bài 6 lớp 11 (Nguyễn Du) |
|---|---|---|
| Cấu trúc bài | Giống nhau: một văn bản giới thiệu tác gia (cuộc đời, sự nghiệp, phong cách) mở đầu, tiếp theo là các tác phẩm tiêu biểu, thực hành đọc thêm hai tác phẩm của cùng tác giả. | |
| Tác phẩm được chọn | Văn chính luận chữ Hán (Bình Ngô đại cáo), thơ Nôm, thơ chữ Hán | Truyện thơ Nôm (Trao duyên, Chí khí anh hùng), thơ chữ Hán (Độc Tiểu Thanh kí, Mộng đắc thái liên) |
| Cảm hứng nổi bật | Yêu nước, nhân nghĩa, lo cho dân | Nhân đạo: xót thương con người, nhất là người phụ nữ tài hoa bạc mệnh |
| Kiến thức nền đi kèm | Văn học trung đại, văn nghị luận trung đại, yếu tố biểu cảm trong nghị luận | Giao lưu và sáng tạo trong văn học trung đại; truyện thơ Nôm |
Từ đó rút ra đặc điểm của loại bài học về tác gia: (1) lấy một con người làm trục, học nhiều thể loại của cùng một ngòi bút; (2) bắt buộc dùng hiểu biết về tiểu sử, thời đại, quan niệm sáng tác để soi vào tác phẩm, ví dụ biết những năm Nguyễn Du lưu lạc, chứng kiến xã hội loạn lạc thì hiểu vì sao ông viết được nỗi đau của Kiều và của Tiểu Thanh; (3) yêu cầu đánh giá vị trí của tác gia trong lịch sử văn học và thái độ trân trọng di sản. Yêu cầu riêng với người học là không dừng ở thuộc tiểu sử, mà phải chỉ ra được sợi dây nối đời sống với trang viết.
Câu 4 (trang 122): Ý nghĩa của thực hành tiếng Việt với việc đọc văn bản
Phân tích ý nghĩa của các nội dung thực hành tiếng Việt trong việc hỗ trợ hoạt động đọc văn bản ở sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập hai.
Trả lời:
- Lặp cấu trúc và đối (Bài 6): giúp nhận ra nhịp điệu và nỗi đau dồn nén trong lời Kiều (những cặp câu, cặp vế song song khi Kiều dặn dò em), thấy vẻ cân xứng của hai câu thực, hai câu luận trong Độc Tiểu Thanh kí. Kiến thức này còn dùng tiếp khi đọc các cặp câu đối nhau dày đặc trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc ở Bài 9.
- Hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ (Bài 7): trong kí, nhà văn thường dùng từ trái khuôn, kết hợp từ lạ, câu đặc biệt để ghi lại cảm giác riêng. Biết hiện tượng này, người đọc không coi đó là “lỗi” mà hỏi: lối viết ấy đem lại sắc thái gì? Đọc Hoàng Phủ Ngọc Tường, nơi dòng sông được nhân hoá và gọi bằng những tên gọi tình tứ, sẽ thấy rõ.
- Phương tiện phi ngôn ngữ (Bài 8): ảnh Manh Manh nữ sĩ trong Nữ phóng viên đầu tiên, hình ảnh, mốc thời gian trong bài về Pa-ra-lim-pích… là thông tin chứ không chỉ để trang trí. Đọc kĩ chú thích ảnh, bảng số liệu giúp hiểu nhanh và kiểm chứng được nội dung.
- Cách giải thích nghĩa của từ (Bài 9): văn bản Bài 9 nhiều từ cổ, từ Hán Việt, từ địa phương Nam Bộ (ngất ngưởng, phận sự, tinh chiên, mến nghĩa…). Biết các cách giải thích (bằng hình ảnh trực quan, bằng khái niệm, bằng từ đồng nghĩa trái nghĩa, bằng nghĩa từng yếu tố) giúp tự hiểu từ khó mà không phụ thuộc hoàn toàn vào chú thích.
Câu 5 (trang 122): Các kiểu bài viết và yêu cầu
Nêu những kiểu bài viết và yêu cầu của từng kiểu bài đã được thực hành trong sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập hai.
Trả lời:
- Viết văn bản thuyết minh về một tác phẩm văn học (Bài 6). Giới thiệu đúng tác giả, hoàn cảnh ra đời, nội dung, nghệ thuật, vị trí của tác phẩm; có thể xen tự sự, miêu tả, nghị luận hay biểu cảm nhưng mục đích chính vẫn là giúp người đọc hiểu tác phẩm; ghi nguồn tài liệu.
- Viết văn bản thuyết minh về một sự vật, hiện tượng trong đời sống xã hội (Bài 7). Chọn đối tượng có ý nghĩa với cộng đồng; giải thích nguyên nhân, biểu hiện, tác động; thông tin có kiểm chứng; được lồng ghép các yếu tố khác để bài viết sinh động.
- Viết văn bản thuyết minh về một sự vật, hiện tượng trong tự nhiên (Bài 8). Chọn mô hình tổ chức thông tin phù hợp (thường là nhân quả hoặc thời gian); dùng thuật ngữ đúng; tận dụng sơ đồ, hình ảnh; ngôn ngữ khách quan.
- Viết văn bản nghị luận về một tác phẩm nghệ thuật (Bài 9) như bức ảnh, bản nhạc, bức tranh, tượng: giới thiệu tác phẩm; nêu và nhận xét nội dung, một số nét nghệ thuật đặc sắc; dùng thuật ngữ riêng của loại hình nghệ thuật ấy; đưa ra đánh giá có lí lẽ.
Ba kiểu đầu cùng là thuyết minh nhưng khác đối tượng. Lỗi dễ mắc là biến bài thuyết minh về tác phẩm văn học thành bài phân tích, hoặc biến bài nghị luận về bức tranh thành bài tả tranh.
Câu 6 (trang 122): Các nội dung nói và nghe và ý nghĩa của từng nội dung
Liệt kê các nội dung hoạt động của phần Nói và nghe được thực hiện trong sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập hai và cho biết ý nghĩa của từng nội dung hoạt động đó.
Trả lời:
| Bài | Nội dung | Ý nghĩa |
|---|---|---|
| 6 | Giới thiệu về một tác phẩm văn học | Chuyển kết quả đọc thành bài nói ngắn gọn, hấp dẫn; khơi hứng thú đọc ở người nghe. |
| 7 | Thảo luận, tranh luận về một vấn đề trong đời sống | Học cách bảo vệ ý kiến và lắng nghe ý kiến khác; giữ thái độ tôn trọng khi bất đồng. |
| 8 | Tranh biện về một vấn đề trong đời sống | Rèn tư duy phản biện có luật chơi: hai đội, thời gian, lượt phản bác; biết tách lập luận khỏi cảm xúc. |
| 9 | Giới thiệu một tác phẩm nghệ thuật (tiếp theo) | Mở rộng tầm nhìn sang hội hoạ, âm nhạc, điêu khắc, nhiếp ảnh; biết dùng hình ảnh, âm thanh minh hoạ khi nói. |
II. Luyện tập và vận dụng (trang 123–125)
1. Đọc. Văn bản Nhà thơ và thế giới trích diễn từ của Vi-xoáp-va Sim-bô-xca (1923–2012), nhà thơ Ba Lan nhận giải Nô-ben Văn học năm 1996, bản dịch của Tạ Minh Châu. Đoạn trích gồm hai đoạn: đoạn đầu bàn về giá trị của ý thức tôi không biết qua ví dụ Niu-tơn và Ma-ri Quy-ri; đoạn sau áp dụng điều đó vào công việc của nhà thơ.
Câu 1 (trang 124): Ý tưởng chính và từ khoá
Xác định ý tưởng chính mà nhà thơ Vi-xoáp-va Sim-bô-xca muốn triển khai qua đoạn trích. Ý tưởng đó gắn với từ khoá nào?
Trả lời: Ý tưởng chính: biết mình chưa biết là khởi đầu của mọi khám phá và sáng tạo, trong khoa học cũng như trong thơ; người sáng tạo thực thụ không bao giờ hài lòng với câu trả lời đã có. Từ khoá là cụm tôi không biết, được nhắc đi nhắc lại năm lần trong đoạn trích như một điệp khúc.
Câu 2 (trang 124): Những cụm từ tương đương với “tôi không biết”
Hãy nêu một số cụm từ được tác giả nhắc tới trong đoạn trích mà bạn cho là có ý nghĩa tương đương với cụm từ “tôi không biết”.
Trả lời: Có thể kể: “Nhỏ bé nhưng có cánh” (hình ảnh hoá chính ba chữ ấy); “băn khoăn”; “câu trả lời nhất thời và tuyệt nhiên chưa đầy đủ”; “thử một lần, một lần nữa”; “sự không hài lòng với bản thân mình”; cả cách tác giả gọi những người nhận giải Nô-ben là người có tâm hồn luôn sôi nổi tìm tòi. Tất cả cùng chỉ một trạng thái: chưa thoả mãn, còn hỏi, còn tìm.
Câu 3 (trang 124): Ý nghĩa của việc tự nhận “tôi không biết” và đánh giá bằng chứng
Theo tác giả, việc tự xác nhận rằng “tôi không biết” có ý nghĩa như thế nào đối với cuộc sống của mỗi con người và của nhân loại nói chung? Bạn đánh giá như thế nào về các bằng chứng được tác giả nêu lên nhằm khẳng định quan điểm của mình?
Trả lời:
- Với mỗi người: tự nhận chưa biết mở ra những khoảng không để khám phá, cả bên trong lẫn bên ngoài bản thân; nó cứu con người khỏi một đời an phận, như Ma-ri Quy-ri lẽ ra chỉ là cô giáo dạy tư cho con nhà giàu.
- Với nhân loại: đó là động lực của tiến bộ khoa học (định luật vạn vật hấp dẫn, những phát hiện về phóng xạ) và là liều thuốc chống lại thứ tri thức tự mãn, cực đoan mà tác giả cảnh báo ngay câu đầu: tri thức tưởng như đã đủ có thể trở nên nguy hiểm.
- Đánh giá bằng chứng: hai nhân vật được chọn rất đắt: ai cũng biết, thuộc hai lĩnh vực khác nhau, một nam một nữ, và Ma-ri Quy-ri lại là người đồng hương nên lời nói thêm phần thân thiết. Cách lập luận bằng giả định ngược (nếu họ không tự hỏi thì sao) vừa dí dỏm vừa dễ nhớ; hình ảnh quả táo rơi như mưa đá mà Niu-tơn chỉ nhặt lên ăn là một nét hài hước kín đáo. Tuy vậy, đây là giả định chứ không phải dữ kiện kiểm chứng được, và câu chuyện quả táo vốn mang màu giai thoại; sức thuyết phục của bằng chứng nằm ở tính hình tượng nhiều hơn tính chặt chẽ. Với một diễn từ của nhà thơ, lựa chọn ấy hợp lí.
Câu 4 (trang 124): Một ví dụ trong sáng tạo thơ minh hoạ cho đoạn 2
Hãy nêu một ví dụ gắn với lĩnh vực sáng tạo thơ để minh hoạ cho vấn đề được tác giả đề cập trong đoạn 2.
Trả lời: Bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi được viết trong khoảng 1948–1955. Nhà thơ không dừng ở những bài thơ viết trước đó về mùa thu Hà Nội và về những đêm mít tinh kháng chiến, mà tiếp tục viết lại, ghép nối, mở rộng thành một bài thơ lớn về đất nước. Mỗi bản viết trước đó như một lời đáp tạm; ông vẫn thấy chưa đủ nên viết tiếp. Ví dụ khác: Chế Lan Viên trong những năm cuối đời viết rất nhiều bài thơ tự vấn, ghi lại cả sự hoài nghi với chính những gì mình từng viết; phần lớn được in sau khi ông mất với tên Di cảo thơ. Cả hai trường hợp cho thấy điều Sim-bô-xca nói: sự nghiệp sáng tác được làm nên từ chuỗi những lần không hài lòng.
Câu 5 (trang 124): Mạch lạc và liên kết của đoạn trích
Phân tích mạch lạc và liên kết của đoạn trích.
Trả lời:
- Mạch lạc: cả đoạn trích xoay quanh một chủ đề (giá trị của tôi không biết) và đi theo trình tự hợp lí. Đoạn 1: từ nhận định chung về tri thức → nêu quan điểm → hình ảnh khoảng không mở ra → hai bằng chứng từ khoa học. Đoạn 2: chuyển sang thơ, lĩnh vực của chính người nói → mô tả quá trình nhà thơ tự vấn → kết bằng định nghĩa hóm hỉnh về sự nghiệp sáng tác. Đi từ khoa học sang thơ là đi từ cái mọi người đều công nhận đến cái người nghe ít ngờ tới.
- Liên kết: phép lặp (cụm tôi không biết, từ khoảng không); phép thế (những từ ấy thay cho cụm từ khoá); phép nối (Chính vì vậy, Thế nhưng, Nhưng, Vậy là); câu chuyển đoạn Nhà thơ cũng vậy vừa nối hai đoạn vừa báo hiệu phép so sánh. Hai câu giả định bắt đầu bằng Nếu như có cấu trúc song song, tạo nhịp cân đối cho đoạn 1.
Câu 6 (trang 124): Đoạn văn khoảng 200 chữ về hoạt động sáng tạo của nghệ sĩ
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) bày tỏ suy nghĩ của bạn về hoạt động sáng tạo của nhà thơ nói riêng, của các nghệ sĩ nói chung từ những gì được gợi ý trong đoạn trích.
Trả lời (đoạn văn tham khảo):
Người ngoài thường nghĩ nghệ sĩ sáng tạo nhờ cảm hứng bất chợt, nhưng đoạn diễn từ của Sim-bô-xca cho thấy một sự thật khác: sáng tạo là một cuộc tự vấn không có điểm dừng. Nhà thơ đặt dấu chấm cuối bài rồi lại băn khoăn, lại viết tiếp, vì mỗi tác phẩm chỉ là lời đáp tạm cho những câu hỏi lớn về con người. Điều đó đúng với cả hoạ sĩ vẽ đi vẽ lại một bố cục, nhạc sĩ sửa một câu nhạc hàng chục lần. Sự không hài lòng ấy không phải là bi quan; nó là dấu hiệu của người còn đòi hỏi ở mình cao hơn mức đã đạt. Ngược lại, người nghệ sĩ tin rằng mình đã biết đủ sẽ bắt đầu lặp lại chính mình, và nghệ thuật của họ dừng lại từ lúc ấy. Từ đây em nghĩ rằng người đọc, người xem cũng nên học thái độ ấy: đừng vội kết luận một tác phẩm hay hay dở sau một lần tiếp xúc. Với chính mình, mỗi bài văn em viết cũng là một lần thử, và việc đọc lại, sửa lại không phải là thừa, mà là cách duy nhất để lớn lên.
Viết (trang 125): Chọn một trong ba đề
Sách cho ba đề: thuyết minh có kèm phương tiện phi ngôn ngữ để giới thiệu một tác phẩm văn học em thấy đặc sắc; thuyết minh về vấn đề xã hội em quan tâm nhất hiện nay; viết về tác phẩm nghệ thuật đã bất ngờ khơi dậy trong em nhu cầu khám phá nghệ thuật.
- Đề 1: chọn tác phẩm em nắm chắc, ví dụ Truyện Kiều. Bố cục: thông tin về Nguyễn Du và nguồn gốc tác phẩm (dựa vào Kim Vân Kiều truyện nhưng sáng tạo lại bằng thơ lục bát); tóm tắt theo ba phần gặp gỡ – gia biến lưu lạc – đoàn tụ; giá trị hiện thực, nhân đạo; nghệ thuật. Phương tiện phi ngôn ngữ: sơ đồ cốt truyện, bản đồ hành trình lưu lạc của Kiều, ảnh bìa một bản in, bảng so sánh với truyện gốc.
- Đề 2: chọn vấn đề có thể thu thập thông tin thật: tin giả trên mạng xã hội, áp lực học thêm, rác thải nhựa ở trường. Bài thuyết minh trình bày khái niệm, biểu hiện, nguyên nhân, tác động, giải pháp; số liệu phải ghi rõ nguồn. Khác với nghị luận, giọng văn ưu tiên giải thích hơn tranh luận.
- Đề 3: kiểu bài gần với nghị luận về một tác phẩm nghệ thuật ở Bài 9. Mở bằng hoàn cảnh em gặp tác phẩm (một bức ảnh triển lãm, một bản nhạc nghe tình cờ); giới thiệu tác phẩm, tác giả; phân tích vài nét đặc sắc bằng thuật ngữ của loại hình; nói rõ tác phẩm đã thay đổi cách em nhìn nghệ thuật thế nào.
Nói và nghe (trang 125): Chọn một trong ba nội dung
Ba lựa chọn cho nhóm học tập: thuyết trình về một tác phẩm trong danh sách khuyến nghị ở mục Củng cố, mở rộng; trình bày miệng bài thuyết minh về vấn đề xã hội đã chọn (có thể dùng bài viết ở đề 2); giới thiệu một tác phẩm nghệ thuật gợi nhiều suy nghĩ về lựa chọn và hành động.
- Với nội dung 1 và 3, cấu trúc bài nói giống nhau: lí do chọn – thông tin cơ bản – hai, ba điểm đặc sắc có minh hoạ – thông điệp – câu hỏi để người nghe cùng suy nghĩ. Gợi ý cho nội dung 3: bộ phim hoặc bức ảnh về những người tình nguyện vào tâm dịch, một bức tranh cổ động; nối với chủ đề Bài 9 (Nguyễn Công Trứ chọn sống ngất ngưởng, nghĩa sĩ Cần Giuộc chọn cầm dao phay chống giặc).
- Với nội dung 2, hãy rút bài viết thành dàn ý nói, dùng một biểu đồ hoặc vài con số chọn lọc làm điểm tựa; người nghe chuẩn bị câu hỏi về nguồn thông tin.
Đề kiểm tra cuối học kì II Ngữ văn 11 Kết nối tri thức tham khảo (tự soạn, có đáp án)
Đề 90 phút, bám theo Bài 7 và các nội dung tiếng Việt của tập hai. Ngữ liệu là một bài bút kí do Văn VN tự viết.
I. Đọc hiểu (4,0 điểm)
Gió trên đèo Mã Pí Lèng
Chúng tôi rời thị trấn Đồng Văn khi sương còn trùm kín những mái nhà trình tường. Xe chạy chậm, đèn pha chỉ soi được vài mét đường. Anh tài xế người Mông bảo cứ yên tâm, đường này anh đi từ hồi còn chưa đủ tuổi lái xe. Tôi không hỏi thêm, chỉ bám chặt tay vịn.
Mặt trời lên thì núi hiện ra. Núi xếp sau núi, đá chồng lên đá, xám như tro bếp nguội. Bên dưới, sông Nho Quế chỉ còn là một sợi chỉ xanh thẫm luồn qua hẻm vực. Người ta có thể đứng rất lâu ở mép đèo mà không nói gì, vì mọi lời đều có vẻ thừa.
Gió ở Mã Pí Lèng không thổi. Gió bào. Gió bào vào má, bào vào vai áo, bào cả những ý nghĩ vụn vặt mà tôi mang từ thành phố lên. Một bà cụ địu bó cỏ đi ngược dốc, lưng còng mà bước chân không hề chùn. Bà gật đầu chào chúng tôi, nụ cười móm mém, rồi lại cúi xuống con dốc như cúi xuống một việc quen.
Anh tài xế chỉ xuống những khúc cua bám vào vách núi và nói đó là con đường mà người ở đây vẫn gọi là đường Hạnh Phúc, do bao lớp người mở bằng sức tay giữa đá. Tôi nhìn con đường và nghĩ đến những bàn tay ấy. Có những cái đẹp người ta ngắm. Có những cái đẹp người ta phải trả giá mới có.
Lúc xuống dốc, tôi ngoái lại lần cuối. Đèo vẫn đứng đó, trầm mặc. Còn tôi mang theo một thứ không chụp được bằng máy ảnh: cảm giác mình nhỏ bé mà không hề thấy buồn.
Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại nào? Dựa vào đâu em xác định như vậy?
Câu 2. Chỉ ra hai chi tiết mang tính phi hư cấu (người thật, việc thật, địa danh thật) trong văn bản.
Câu 3. Câu “Gió ở Mã Pí Lèng không thổi. Gió bào.” có hiện tượng gì khác với cách dùng từ thông thường? Nêu tác dụng.
Câu 4. Xác định và nêu tác dụng của biện pháp tu từ trong câu “Núi xếp sau núi, đá chồng lên đá”.
Câu 5. Ở đoạn văn thứ tư, phần kể sự việc và phần bộc lộ cảm xúc, suy ngẫm đan vào nhau như thế nào?
Câu 6. Em hiểu thế nào về câu “Có những cái đẹp người ta ngắm. Có những cái đẹp người ta phải trả giá mới có.”? Trả lời trong 5–7 câu.
II. Viết (6,0 điểm)
Chọn một trong hai đề: (1) Viết văn bản thuyết minh về hiện tượng giới trẻ đi du lịch để chụp ảnh “check-in” tại các danh thắng, có lồng ghép yếu tố miêu tả và nghị luận. (2) Viết bài văn nghị luận về một bức ảnh, một bức tranh hoặc một bài hát về thiên nhiên, con người miền núi mà em yêu thích.
Đáp án và hướng dẫn chấm
| Câu | Yêu cầu cần đạt | Điểm |
|---|---|---|
| 1 | Kí (bút kí, du kí). Căn cứ: ghi chép chuyến đi có thật của người viết xưng “tôi”; kết hợp tả, kể với bộc lộ cảm xúc, suy ngẫm. | 0,5 |
| 2 | Ví dụ: địa danh thị trấn Đồng Văn, đèo Mã Pí Lèng, sông Nho Quế; nhà trình tường; con đường được gọi là đường Hạnh Phúc; anh tài xế người Mông. Nêu đúng 2 chi tiết. | 0,5 |
| 3 | Dùng từ bào (vốn chỉ hoạt động dùng cái bào làm nhẵn gỗ) cho gió, phá vỡ kết hợp thông thường của từ; tách thành câu đặc biệt ngắn. Tác dụng: diễn tả gió mạnh, buốt, như cạo vào da; gây ấn tượng; mở ra liên tưởng gió làm sạch những ý nghĩ vụn vặt. | 0,5 |
| 4 | Lặp cấu trúc (và đối) núi xếp sau núi / đá chồng lên đá. Tác dụng: gợi sự trùng điệp, mênh mông của cao nguyên đá; tạo nhịp chậm, nặng như tầng tầng lớp lớp. | 0,5 |
| 5 | Tự sự: anh tài xế kể về con đường do bao lớp người mở. Trữ tình: người viết nghĩ tới những bàn tay ấy và rút ra suy ngẫm về cái đẹp. Sự việc làm điểm tựa cho cảm xúc, cảm xúc nâng sự việc lên thành ý nghĩa. | 1,0 |
| 6 | Phân biệt cái đẹp tự nhiên để chiêm ngưỡng với cái đẹp do lao động, hi sinh của con người tạo nên; trân trọng công sức người đi trước; liên hệ bản thân. Diễn đạt rõ. | 1,0 |
| Viết | Đúng kiểu bài, bố cục rõ (0,5). Đề 1: giải thích hiện tượng, biểu hiện, nguyên nhân, mặt tích cực (quảng bá điểm đến) và hệ quả (quá tải, xả rác, hành vi nguy hiểm ở vách đá), giải pháp; thông tin chính xác, có thể kèm số liệu có nguồn (4,0). Đề 2: giới thiệu tác phẩm; phân tích nội dung và hai, ba nét nghệ thuật bằng thuật ngữ phù hợp (bố cục, ánh sáng, giai điệu, ca từ…); đánh giá, nêu tác động tới bản thân (4,0). Chính tả, diễn đạt (1,0); sáng tạo (0,5). | 6,0 |
Gợi ý ôn tập theo bốn kiểu văn bản của học kì II lớp 11
- Truyện thơ Nôm và thơ chữ Hán: học thuộc vài câu then chốt của Trao duyên, Độc Tiểu Thanh kí; luyện nhận diện độc thoại nội tâm và phép đối, vì đây là hai câu hỏi tiếng Việt – văn học hay đi kèm nhau.
- Kí: mỗi lần đọc một đoạn kí lạ, tự hỏi ba câu: chi tiết nào là thật, chỗ nào là tưởng tượng; cái tôi tác giả hiện ra ở đâu; câu văn nào lệch khỏi cách nói thông thường và để làm gì.
- Văn bản thông tin: ôn bốn mô hình tổ chức thông tin bằng từ ngữ dấu hiệu (trước hết, sau đó; vì thế, do đó; thứ nhất, thứ hai; giống với, ngược lại). Nhìn từ dấu hiệu sẽ trả lời nhanh câu hỏi về cách trình bày dữ liệu.
- Nghị luận và văn bản nhiều chủ đề: với Cộng đồng và cá thể hay đoạn diễn từ của Sim-bô-xca, tập tóm tắt luận đề trong một câu và gọi tên từng loại bằng chứng. Với Bài ca ngất ngưởng, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, tập tách chủ đề chính và chủ đề phụ.
Xem thêm: