Soạn bài Mấy ý nghĩ về thơ hướng dẫn em giải đáp câu hỏi khởi động, năm câu hỏi trong khi đọc, bảy câu hỏi sau khi đọc (trang 77) và đề viết kết nối với đọc trong sách Ngữ văn 12 Kết nối tri thức, tập một, Bài 3 (Lập luận trong văn bản nghị luận). Đây là bài tiểu luận nổi tiếng của Nguyễn Đình Thi, viết năm 1949, trình bày những suy nghĩ của một người vừa làm thơ vừa nghiên cứu về bản chất và hình thức của thơ.
Tìm hiểu chung về văn bản Mấy ý nghĩ về thơ
Một vài thông tin cơ bản giúp em đọc văn bản dễ hơn.

- Tác giả: Nguyễn Đình Thi, sinh năm 1924, mất năm 2003, người Hà Nội, nghệ sĩ đa tài: làm thơ, viết văn, soạn nhạc, viết kịch, viết lí luận phê bình.
- Xuất xứ: văn bản ghi ngày 12/9/1949; SGK trích theo Tuyển tác phẩm văn học Nguyễn Đình Thi, phần tiểu luận, bút kí, do NXB Văn học ấn hành năm 2001.
- Thể loại: văn bản nghị luận (tiểu luận bàn về thơ).
- Bố cục: 5 phần được đánh số trong SGK – nhận xét những cách hiểu phổ biến về thơ; nguồn gốc của thơ nằm trong tâm hồn; cảm xúc, tư tưởng và hình ảnh; chữ, nhịp điệu và đường đi của thơ; chuyện vần và thơ tự do.
Văn bản còn trong thời hạn bảo hộ bản quyền, vì vậy bài soạn chỉ tóm lược ý và trích một số câu ngắn; em đọc toàn văn trong SGK.
Trước khi đọc (trang 72)
Câu 1: Bài nghiên cứu, phê bình về thơ em thích nhất (trang 72)
Trong các bài nghiên cứu, phê bình về thơ bạn đã đọc, bạn thích nhất bài nào? Vì sao?
Trả lời:
Em có thể chọn bài mình đã học ở lớp dưới hoặc tự tìm đọc. Gợi ý: em thích nhất bài Một thời đại trong thi ca của Hoài Thanh (phần mở đầu cuốn Thi nhân Việt Nam). Lí do: người viết không giảng giải khô khan mà dẫn dắt bằng giọng văn tinh tế, giàu cảm xúc, chỉ ra được cái mới của thơ ca một thời là chữ “tôi” cá nhân. Đọc bài ấy, em vừa hiểu thêm về một giai đoạn văn học, vừa học được cách cảm thơ bằng cả trí tuệ lẫn tâm hồn.
Đọc văn bản: trả lời câu hỏi trong khi đọc
Trong khi đọc, SGK gợi ý em dừng lại ở năm điểm ghi bên lề văn bản.
Câu 1: Một số quan niệm về thơ được tác giả nêu và nhận xét
Trả lời: Ở phần 1, tác giả điểm lại ba quan niệm thường gặp:
- Thơ là những lời đẹp – không đúng, bởi cả Hồ Xuân Hương lẫn Nguyễn Du đều đưa những chữ nôm na của lời ăn tiếng nói hằng ngày vào thơ.
- Thơ phải viết về đề tài đẹp – cũng không đúng, vì Bô-đơ-le từng viết về xác một con chó chết, còn thơ thời kháng chiến nói cả tới chiếc xe đạp, chiếc ba lô, hàng dây thép gai của đồn giặc.
- Thơ khác văn xuôi vì dễ khắc vào trí nhớ – nhận xét tinh tế nhưng chưa giải thích được vì sao thơ dễ nhớ, mà có những thứ rất dễ nhớ như công thức toán học lại chẳng phải là thơ.
Cách nhận xét của tác giả công bằng: thừa nhận cái đúng một phần, chỉ ra chỗ chưa đủ, từ đó dọn đường cho quan niệm của riêng mình.
Câu 2: Mục đích của câu hỏi tu từ
Trả lời: Câu “Đầu mối của thơ có lẽ ta đi tìm bên trong tâm hồn con người chăng?” không nhằm hỏi để có câu trả lời. Nó đánh dấu bước chuyển từ phần bác bỏ các quan niệm chưa thỏa đáng sang phần nêu cách hiểu riêng của người viết, đồng thời gợi người đọc cùng suy nghĩ. Hình thức hỏi làm cho luận điểm quan trọng nhất (thơ bắt nguồn từ tâm hồn) được nêu ra nhẹ nhàng, khiêm tốn mà vẫn gây chú ý.
Câu 3: Các ý được triển khai ở phần 3
Trả lời:
- Khi tâm hồn chạm vào đời sống, tiếng nói bật ra trước hết là thơ; cảm xúc là phần máu thịt nhất của đời sống tinh thần.
- Thơ không thể thiếu suy nghĩ, song suy nghĩ ấy hòa tan trong cảm xúc; hiểu thơ là việc của cả tâm hồn chứ không riêng trí óc.
- Khác với triết học hay luận lí, thơ không diễn đạt bằng khái niệm trừu tượng; minh chứng là một bài ca dao mà lí trí khó giải thích nhưng lòng người hiểu ngay.
- Người làm thơ phải tìm được hình ảnh trong ý nghĩ, tình cảm của mình; hình ảnh tự đến khi nhà thơ mở lòng giữa cuộc đời.
- Hình ảnh trong thơ luôn tươi mới vì nhà thơ nhìn sự vật như lần đầu, nhưng lại rất thực, khiến ta nhận ra cái gần gũi mà trước đó mình không biết nhìn.
Câu 4: Khía cạnh của thơ được chuyển sang bàn luận
Trả lời: Ở phần 4, trọng tâm dời sang ngôn từ: mỗi chữ, mỗi tiếng trong thơ ngoài nghĩa thông thường còn có sức gợi, tỏa ra xung quanh những cảm xúc, hình ảnh bất ngờ. Tiếp đó tác giả bàn về nhịp điệu, nhạc tính bên trong của thơ và so sánh đường đi của thơ với văn xuôi.
Câu 5: Quan niệm về vần và các khía cạnh hình thức khác
Trả lời: Tác giả coi luật lệ, âm điệu, vần là vũ khí mạnh của người làm thơ, nhưng thiếu chúng thì thơ vẫn có thể thành công. Theo ông, câu hỏi vần hay không vần là đặt sai chỗ: “Chỉ có thơ thực và thơ giả, thơ hay và thơ không hay, thơ và không thơ.” Hình thức thơ đổi mới theo thời đại; điều cần lo trước hết là thơ diễn đạt được những rung động, suy nghĩ của con người thời mới. Bỏ luật lệ bên ngoài không có nghĩa là buông thả, vì nghệ thuật luôn cần một thứ kỉ luật tự giác từ bên trong.
Sau khi đọc: trả lời câu hỏi trang 77
Bảy câu hỏi sau khi đọc xoay quanh bố cục, hệ thống luận điểm, các thao tác nghị luận và ý nghĩa của văn bản hôm nay.
Câu 1: Tóm lược nội dung từng phần và mối quan hệ giữa các phần (trang 77)
Tóm lược nội dung từng phần của văn bản (theo số thứ tự) và nêu mối quan hệ giữa các phần.
Trả lời:
| Phần | Nội dung chính |
|---|---|
| 1 | Điểm lại và đánh giá ba cách hiểu quen thuộc về thơ (lời đẹp, đề tài đẹp, dễ in vào trí nhớ), cho thấy chúng chưa chạm tới bản chất của thơ. |
| 2 | Khẳng định đầu mối của thơ nằm trong tâm hồn; làm thơ là thể hiện trạng thái tâm hồn rung động khác thường; bài thơ truyền tình cảm sang người đọc và người đọc tự tái tạo cảm xúc ấy. |
| 3 | Bàn về cảm xúc, tư tưởng trong thơ, về chỗ khác nhau giữa thơ với lối nói bằng khái niệm và vai trò của hình ảnh tươi mới, chân thực. |
| 4 | Bàn về sức gợi của chữ và tiếng, về nhạc tính bên trong và lối thơ tìm thẳng tới tình cảm; “Thơ là tổng hợp, kết tinh.” nên phải hoàn hảo đến từng chi tiết. |
| 5 | Bàn về vần, thơ tự do: luật lệ là vũ khí nhưng không quyết định; điều đáng phân biệt là thơ thật hay thơ giả; hình thức thơ đổi mới theo thời đại, cần kỉ luật tự giác. |
Quan hệ giữa các phần: phần 1 phá bỏ những cách hiểu chưa đúng, làm tiền đề; phần 2 nêu quan niệm gốc: thơ bắt nguồn từ đâu; phần 3 và 4 triển khai quan niệm ấy qua các yếu tố cụ thể (cảm xúc, tư tưởng, hình ảnh, ngôn từ, nhịp điệu); phần 5 vận dụng quan niệm đó để giải quyết một vấn đề thời sự là chuyện vần và thơ tự do. Các phần nối nhau theo trình tự từ bác bỏ đến khẳng định, từ bản chất đến hình thức.
Câu 2: Những quan niệm về thơ ở phần 1 và mục đích nhận xét (trang 77)
Ở phần 1 của văn bản, những quan niệm nào về thơ đã được tác giả nêu lên để nhận xét? Mục đích của việc nhận xét đó là gì?
Trả lời:
- Thơ là những lời đẹp: tác giả phản bác bằng dẫn chứng thơ Hồ Xuân Hương mượn chữ dân dã, mách qué của đời thường và Nguyễn Du bên cạnh những câu thơ trau chuốt vẫn có những câu rất đời thường.
- Thơ phải có đề tài đẹp: tác giả phản bác bằng bài thơ của Bô-đơ-le và những hình ảnh rất bình thường của đời sống kháng chiến đi vào thơ.
- Thơ là thứ in sâu vào trí nhớ: tác giả ghi nhận đây là nhận xét tài tình nhưng chỉ ra nó chưa lí giải được nguồn gốc sức nhớ của thơ, và cái dễ nhớ chưa chắc đã là thơ.
Mục đích: giúp người đọc thoát khỏi những cách hiểu hời hợt, chỉ nhìn thơ từ bề ngoài (chữ, đề tài, tác dụng), từ đó thấy cần đi tìm bản chất của thơ ở tầng sâu hơn. Việc nhận xét ấy cũng là bước dẫn khéo léo vào những ý kiến riêng của người viết.
Câu 3: Các luận điểm và cách triển khai một luận điểm tiêu biểu (trang 77)
Chỉ ra các luận điểm thể hiện quan niệm của tác giả về thơ, phân tích cách triển khai một luận điểm tiêu biểu.
Trả lời:
Các luận điểm chính:
- Đầu mối của thơ nằm trong tâm hồn con người; bài thơ là phương tiện truyền rung động từ người viết sang người đọc.
- Thơ diễn đạt không phải bằng khái niệm, lập luận lô gích mà bằng cảm xúc và hình ảnh; hình ảnh thơ phải tươi mới và chân thực.
- Chữ và tiếng trong thơ có sức gợi vượt ra ngoài nghĩa đen; thơ có nhịp điệu bên trong, đi thẳng vào tình cảm.
- Vần và luật lệ không phải thước đo giá trị; điều cốt yếu là thơ thực, thơ hay, nói được tâm hồn con người của thời đại.
Phân tích luận điểm về ngôn ngữ cảm xúc của thơ (khác ngôn ngữ khái niệm):
- Đặt luận điểm lên đầu bằng một câu ngắn, dứt khoát: “Nên thơ không nói bằng ý niệm thuần tuý.”
- Giải thích bằng cách đối chiếu: dùng khái niệm để nói thì ta có triết học, có luận lí; còn thơ nhắm tới việc làm rung chuyển chiều sâu tâm hồn nên đưa cảm xúc đi thẳng vào suy nghĩ.
- Chứng minh bằng một bài ca dao bắt đầu từ câu “Trên trời có đám mây xanh”: nhà luận lí không hiểu vì sao chuyện mây lại dẫn tới chuyện anh và nàng, nhưng tâm hồn người đọc thì hiểu ngay.
- Mở rộng sang yêu cầu với người làm thơ: phải tìm thấy hình ảnh trong chính ý nghĩ, tình cảm của mình; hình ảnh ấy mới mẻ vì nhà thơ luôn “nhìn bằng con mắt của người đầu tiên”, nhưng vẫn là cái thực ta từng gặp mà không biết nhìn.
Cách triển khai đi theo trình tự nêu – giải thích – dẫn chứng – mở rộng, vừa chặt chẽ vừa giàu hình ảnh.
Câu 4: Điều quan trọng trong sáng tạo thơ và thao tác nghị luận (trang 77)
Theo tác giả, điều gì đóng vai trò quan trọng trong sáng tạo thơ? Tác giả đã dùng những thao tác nghị luận nào để làm sáng tỏ điều đó?
Trả lời:
- Điều quan trọng nhất: những rung động có thật trong lòng người viết khi đối diện với đời sống. Tác giả viết: “Làm thơ là đang sống, không phải chỉ nhìn lại sự sống”. Nghĩa là người làm thơ phải sống hết mình với đời, để cảm xúc chân thật trào lên rồi tìm được hình ảnh, chữ nghĩa, nhịp điệu thích hợp mà truyền sang người đọc.
- Các thao tác nghị luận:
- Giải thích: cắt nghĩa làm thơ là gì, thơ khác văn xuôi ra sao, vì sao hình ảnh thơ luôn mới.
- Chứng minh: dẫn câu thơ Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, thơ Bô-đơ-le, bài ca dao về mây, câu Kiều “Chim hôm thoi thót về rừng”.
- So sánh: thơ với văn xuôi (dòng nước đưa người đi lần lượt và cái bấm vào vài điểm chính), làm thơ với nhìn lại sự sống.
- Bác bỏ: gạt đi các quan niệm thơ là lời đẹp, đề tài đẹp; phủ nhận việc coi vần là tiêu chí phân định thơ.
- Bình luận: đánh giá về tư tưởng trong thơ, về kỉ luật của nghệ thuật.
Các thao tác đan cài với nhau và được diễn đạt bằng nhiều hình ảnh so sánh, khiến những vấn đề lí luận trở nên dễ cảm, dễ nhớ.
Câu 5: Có tán thành quan điểm về hình thức thơ không? (trang 77)
Tác giả cho rằng: “chúng ta không nên lo thơ đi vào hình thức này hay hình thức khác”… “Dùng bất cứ hình thức nào, miễn là thơ diễn tả được đúng tâm hồn con người mới ngày nay”. Bạn có tán thành với quan điểm đó không? Vì sao?
Trả lời:
Em tán thành quan điểm này, vì:
- Giá trị của thơ trước hết nằm ở cảm xúc, tư tưởng mà nó chở tới người đọc; hình thức chỉ là phương tiện. Một bài thơ đúng luật mà rỗng cảm xúc vẫn là thơ giả.
- Mỗi thời đại có những rung động mới cần hình thức mới để diễn đạt. Lịch sử thơ Việt cho thấy thơ lục bát, thơ Đường luật, Thơ mới, thơ tự do thời kháng chiến đều ra đời từ nhu cầu nói được tiếng lòng của thời mình.
- Không bị trói vào một khuôn, người viết được tự do tìm tòi, thử nghiệm, nhờ đó thơ phong phú hơn.
Tuy vậy, tán thành không có nghĩa coi nhẹ hình thức. Bản thân tác giả cũng dặn rằng tự do không phải là cẩu thả; người làm thơ vẫn phải tự đặt cho mình kỉ luật nghiêm ngặt để mỗi chữ, mỗi nhịp đều có lí do tồn tại.
Câu 6: Ý nghĩa của văn bản với thực tế sáng tác thơ hiện nay (trang 77)
Theo bạn, nội dung nghị luận của văn bản còn có ý nghĩa đối với thực tế sáng tác thơ hiện nay không? Vì sao?
Trả lời:
Dù được viết cách đây hơn bảy mươi năm, bài tiểu luận vẫn còn nguyên ý nghĩa. Những vấn đề tác giả nêu – thơ bắt nguồn từ tâm hồn, thơ cần cảm xúc thật, hình ảnh mới, chữ có sức gợi, hình thức phải phục vụ nội dung – đều là những đòi hỏi muôn thuở của thơ. Thơ hôm nay có nhiều thể nghiệm táo bạo: thơ văn xuôi, thơ không dấu câu, thơ đăng trên mạng xã hội. Trong bối cảnh ấy, lời nhắc của Nguyễn Đình Thi giúp người viết lẫn người đọc phân biệt được đâu là đổi mới thực sự, đâu chỉ là lạ hóa hình thức, và rằng tiêu chí cuối cùng vẫn là thơ thực hay thơ giả.
Câu 7: Điều bổ ích rút ra về bản chất của thơ và việc đọc thơ (trang 77)
Từ văn bản này, bạn rút ra được điều gì bổ ích cho bản thân trong việc hiểu bản chất của thơ và việc đọc thơ?
Trả lời:
- Về bản chất của thơ: thơ cất lên từ một tâm hồn đang rung động trước đời sống; ý tưởng trong thơ hòa vào cảm xúc; thơ sống bằng hình ảnh, sức gợi của chữ và nhạc điệu bên trong; vần, luật chỉ là phương tiện.
- Về việc đọc thơ: cần đọc bằng cả tâm hồn, để mình rung động cùng bài thơ chứ không chỉ phân tích bằng lí trí; chú ý những khoảng lặng, sức gợi của từng chữ; tự tái tạo hình ảnh, cảm xúc trong lòng mình. Chẳng hạn, khi đọc bài thơ Lá đỏ của chính Nguyễn Đình Thi, em sẽ thấy hình ảnh cô gái giữa rừng Trường Sơn có sức lay động vì nó được nhìn bằng con mắt đầy xúc động của người trong cuộc.
Kết nối đọc – viết (trang 77)
Phần cuối bài học yêu cầu em viết một đoạn văn ngắn bàn về một câu nói trong văn bản.
Câu 1: Viết đoạn văn về vai trò truyền cảm xúc của bài thơ (trang 77)
Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày cách hiểu của bạn về ý kiến: “Bài thơ là sợi dây truyền tình cảm cho người đọc”.
Trả lời:
Đoạn văn tham khảo 1:
Nguyễn Đình Thi ví bài thơ như sợi dây truyền tình cảm cho người đọc, một hình ảnh vừa giản dị vừa sâu sắc. Ở một đầu sợi dây là nhà thơ với những rung động có thật trước cuộc đời; ở đầu kia là người đọc. Chữ nghĩa, hình ảnh, nhịp điệu của bài thơ chính là chất liệu làm nên sợi dây, giúp cảm xúc đi từ trái tim này sang trái tim khác. Nhưng tác giả cũng lưu ý: người đọc không đứng yên mà nhận, họ tự tạo lại trạng thái tâm hồn ấy khi chữ và lời chạm tới mình. Vì vậy, sợi dây chỉ thật sự rung lên khi cả hai đầu cùng có cảm xúc. Từ ý kiến này, em hiểu rằng đọc thơ là một cuộc gặp gỡ của hai tâm hồn, và một bài thơ hay là bài thơ khiến người đọc thấy chính mình trong đó.
Đoạn văn tham khảo 2:
Câu nói ấy khẳng định thơ là cầu nối giữa người với người. Bài thơ không chỉ ghi lại cảm xúc của riêng người viết mà còn để chia sẻ, lan tỏa. Khi đọc những câu thơ về người lính trong Đất nước của Nguyễn Đình Thi, người đọc hôm nay dù không sống trong thời chiến vẫn thấy xót xa và tự hào, bởi cảm xúc của nhà thơ đã theo sợi dây ngôn từ đi qua mấy chục năm để đến với họ. Muốn sợi dây ấy bền chắc, nhà thơ phải viết bằng cảm xúc chân thật, còn người đọc phải mở lòng, đọc chậm, lắng nghe. Hiểu như vậy, em thấy mỗi lần đọc một bài thơ là một lần được sống thêm một cuộc đời, được nối mình với những tâm hồn khác.
Kết luận
Mấy ý nghĩ về thơ là một văn bản nghị luận giàu chất thơ: luận đề về bản chất của thơ được triển khai qua năm phần, đi từ bác bỏ những quan niệm chưa đúng tới khẳng định quan niệm của tác giả, rồi bàn tới hình thức. Khép lại bài viết là một hình ảnh đẹp: “Đạp đổ bức tường giam trước mặt rồi, giới hạn chỉ còn do sức đi xa của mình.” Khi soạn bài, em cần nắm luận đề, hệ thống luận điểm và cách tác giả kết hợp lí lẽ với hình ảnh, dẫn chứng thơ.
Xem thêm: