Đồng hóa là làm cho một cái vốn khác trở nên giống như mình, hoặc biến những gì lấy từ bên ngoài thành của mình. Từ này có mặt ở nhiều môn học: đồng hóa văn hóa trong môn Sử, đồng hóa và dị hóa trong môn Sinh, đồng hóa âm trong ngôn ngữ học. Nét chung của mọi cách dùng là sự khác biệt bị mài dần cho tới khi giống nhau.
| Nghĩa chung | Làm cho trở thành giống nhau; biến cái bên ngoài thành cái của mình |
| Gốc từ | Hán Việt 同化: đồng (cùng, giống) + hóa (biến đổi) |
| Loại từ | Động từ; “sự đồng hóa”, “quá trình đồng hóa” là cách danh từ hóa |
| Lĩnh vực hay gặp | Lịch sử, xã hội học, sinh học, ngữ âm học, tâm lý học |

Chữ 同化 trong đồng hóa
Chữ đồng (同) mang nghĩa cùng, giống nhau, như trong đồng học, đồng sự, đại đồng. Chữ hóa (化) là biến đổi, cái này mất đi để cái kia sinh ra; Thiều Chửu lấy ví dụ tiêu hóa là làm tan vật chất để nó thành chất khác. Ghép lại, đồng hóa là “biến cho thành giống”.
Từ điển trích dẫn trên trang tra Hán Nôm ghi ba cách hiểu của 同化: làm những vật không giống nhau dần thành giống nhau; một cộng đồng bị văn hóa khác lấn át đến mức đổi cả tập quán và quan niệm vốn có; hai âm khác nhau biến thành tương đồng. Ba nghĩa ấy gần như trùng khớp với cách tiếng Việt đang dùng. Từ điển tiếng Việt còn thêm nghĩa sinh học, nên tính ra có bốn chỗ người học hay gặp chữ này.
Bốn chỗ hay gặp chữ đồng hóa
Trong lịch sử và văn hóa
Đây là nghĩa phổ biến nhất: làm thay đổi bản chất của người khác cho giống như mình. Từ điển đưa ví dụ chính sách đồng hoá. Sách Lịch sử 6 dùng chữ này khi nói về thời Bắc thuộc: chính quyền đô hộ truyền bá chữ Hán, đưa người Hán sang sống xen kẽ, bắt người Việt đổi phong tục. Người Việt vẫn giữ tiếng nói, tục nhuộm răng, ăn trầu, thờ cúng tổ tiên; những gì tiếp thu được thì được Việt hóa cho hợp nếp nhà.
Đồng hóa không phải lúc nào cũng do ép buộc. Một gia đình di cư sang nước khác, sau vài thế hệ, con cháu có thể nói tiếng bản xứ giỏi hơn tiếng của ông bà. Xã hội học gọi đó là đồng hóa văn hóa: nhóm nhỏ dần nhận thói quen, giá trị của nhóm đông và để mất nét riêng ban đầu.
Trong sinh học
Ở môn Sinh, đồng hóa là quá trình cơ thể biến những chất lấy từ môi trường thành chất của chính cơ thể: từ chất đơn giản tổng hợp nên protein, tinh bột, chất béo, tích lại năng lượng. Mặt đối lập là dị hóa, phân giải chất phức tạp thành chất đơn giản và giải phóng năng lượng. Hai quá trình chạy song song, gộp lại thành trao đổi chất.
Trong ngữ âm học
Đồng hóa âm là khi một âm đổi cách phát âm cho giống âm đứng cạnh, thường để nói nhanh cho xuôi. Người học tiếng Anh hay được chỉ ví dụ input: âm /n/ đứng trước /p/ nên nhiều người đọc gần như “im-put”.
Trong tâm lý học
Lý thuyết phát triển nhận thức của Jean Piaget dùng chữ này (tiếng Anh assimilation) cho việc trẻ nhét điều mới vào những hiểu biết sẵn có. Đứa bé quen con chó, lần đầu thấy con mèo cũng gọi là “chó”: nó đang đồng hóa. Khi nhận ra hai con khác nhau và sửa lại hiểu biết, quá trình ấy được gọi là điều ứng.
Đồng hóa đặt cạnh dị hóa, hội nhập và hòa tan
| Từ | Khác đồng hóa ở chỗ |
|---|---|
| Dị hóa | Trái nghĩa trong sinh học: phân giải chứ không tổng hợp |
| Hội nhập | Tham gia vào cộng đồng lớn hơn nhưng vẫn giữ được bản sắc của mình |
| Giao lưu, tiếp biến văn hóa | Hai bên trao đổi qua lại, cùng đổi thay, không bên nào phải xóa mình |
| Hòa tan | Cách nói hình ảnh về đồng hóa trọn vẹn: không còn thấy nét riêng nào |
| Hán hóa, Âu hóa, Việt hóa | Đồng hóa theo một hướng cụ thể, chữ đứng giữa cho biết hướng ấy |
Lấy ví dụ trong chính tiếng Việt: từ điển có câu mẫu “từ mượn đã được đồng hoá”. Xà phòng, ga, phanh đều vào tiếng Việt từ tiếng Pháp, nhưng đã đổi âm, mang thanh điệu, đọc lên không ai thấy lạ. Chuyện ấy được giải thích ở bài các lớp từ vay mượn trong tiếng Việt.
Ranh giới giữa hội nhập và đồng hóa nằm ở câu hỏi: sau khi tiếp xúc, cái riêng của mình còn lại bao nhiêu? Nhiều đề nghị luận lớp 12 xoay quanh đúng điểm này; hai bài giải nghĩa bản sắc văn hóa dân tộc và khái niệm toàn cầu hóa có sẵn ý để triển khai. Khi viết, nên tránh dùng “bị đồng hóa” cho mọi sự tiếp nhận: một học sinh thích nhạc nước ngoài mà vẫn nói tiếng mẹ đẻ, vẫn ăn Tết với ông bà thì chưa hề bị đồng hóa.
Đồng hóa ở lớp Sinh, lớp Sử và lớp Văn
Đồng hóa văn hóa là gì?
Là quá trình một cá nhân hay một nhóm người dần bỏ ngôn ngữ, phong tục, lối nghĩ vốn có để giống với nền văn hóa đang chiếm ưu thế quanh mình. Quá trình này có thể diễn ra tự nhiên qua nhiều thế hệ, hoặc bị ép bằng chính sách.
Đồng hóa và dị hóa khác nhau thế nào?
Đồng hóa xây: tổng hợp chất phức tạp từ chất đơn giản và tích năng lượng. Dị hóa phá: phân giải chất phức tạp và giải phóng năng lượng cho cơ thể dùng. Hai quá trình luôn đi cùng nhau, thiếu một bên thì cơ thể không sống được.
Chính sách đồng hóa là gì?
Là những biện pháp một chính quyền dùng để buộc dân tộc khác bỏ tiếng nói, chữ viết, phong tục của họ mà theo mình. Trong sách Lịch sử 6, cụm này gắn với thời Bắc thuộc và cuộc đấu tranh giữ gìn văn hóa của người Việt.
Đồng hóa tiếng Anh là gì?
Là assimilation, động từ assimilate. Riêng trong sinh học, đồng hóa theo nghĩa tổng hợp chất còn được gọi là anabolism, đối lập với catabolism (dị hóa).