Năng lực sáng tạo là văn bản nghị luận của nhà toán học Phan Đình Diệu, thuộc Bài 3 của sách (chủ đề: lập luận trong văn bản nghị luận), Ngữ văn 12 Kết nối tri thức tập một. Bài viết dưới đây tổng hợp thông tin về tác giả, xuất xứ, luận đề, các luận điểm, cách chia bố cục, nội dung, nghệ thuật kèm sơ đồ tư duy của văn bản.
Nội dung văn bản Năng lực sáng tạo
Văn bản trong SGK là phần trích, gồm năm đoạn lớn. Ý chính của từng đoạn như sau:

- Đoạn 1: Tác giả cho rằng khó định nghĩa rạch ròi sáng tạo, nhưng có thể nhận ra nó qua đặc điểm: đó là hoạt động tinh thần chỉ con người mới có, cho ra cái mới và độc đáo, đòi hỏi khả năng suy nghĩ cùng sức tưởng tượng. Cốt lõi là sự xuất hiện của ý tưởng, thứ mà Poanh-ca-rê gọi là những ánh chớp. Ánh chớp chỉ lóe lên khi trí tuệ đã được tích tụ bằng lao động bền bỉ.
- Đoạn 2: Phản bác quan niệm sáng tạo là việc riêng của giới trí thức. Trong kinh tế tri thức, ai cũng tham gia sáng tạo và ai cũng có năng lực ấy. Muốn phát triển, trước hết phải tin mình là người sáng tạo; tiếp đó là chín “chìa khóa” khác mà CoachVille nêu ra.
- Đoạn 3: Mọi hoạt động sáng tạo đều chung một điểm: tìm ra cái mới để gỡ những khó khăn mà cuộc sống đặt ra. Người bình thường không cần nổi danh, sáng tạo đem lại cho họ niềm vui lặng lẽ vì thấy đời mình có ý nghĩa.
- Đoạn 4: Sáng tạo là lao động nặng nhọc nên cần động lực: từ lòng ham hiểu biết, đến cạnh tranh thị trường, và ngày nay là sức ép của nền kinh tế dựa vào tri thức trên phạm vi toàn cầu. Vì thế, nuôi dưỡng khả năng sáng tạo đã thành nhiệm vụ chiến lược của từng nước.
- Đoạn 5: Sáng tạo là việc của từng bộ óc nhưng cũng là thành quả tập thể, lại được công nghệ thông tin hỗ trợ. Năng lực sáng tạo quyết định vận mệnh đất nước, sự thành bại của tổ chức và cuộc sống của mỗi người. Tác giả bày tỏ niềm hi vọng dân tộc sẽ có một năng lực sáng tạo đủ mạnh để theo kịp thế giới.
Văn bản còn trong thời hạn bảo hộ nên bài chỉ tóm lược ý, em có thể đọc toàn văn trong SGK và xem phần trả lời câu hỏi ở bài soạn.
Thông tin tác giả Phan Đình Diệu
Phan Đình Diệu sinh năm 1936, mất năm 2018, người Hà Tĩnh. Ông theo học ngành toán ở Hà Nội, sau đó làm nghiên cứu sinh tại Đại học Tổng hợp Lô-mô-nô-xốp (Mát-xcơ-va) đến năm 1967 thì về nước, khi đã là Tiến sĩ khoa học.
Ông được xem là nhà toán học tài năng, một trong những người mở đường cho ngành tin học nước ta. Khi Viện Khoa học tính toán và Điều khiển được thành lập, ông được cử giữ chức viện trưởng đầu tiên (tiền thân Viện Công nghệ thông tin ngày nay), cũng là người lập ra và giữ chức Chủ tịch đầu tiên của Hội Tin học Việt Nam, đồng thời tham gia giảng dạy về độ phức tạp tính toán, mật mã, an toàn thông tin cho sinh viên, học viên sau đại học.
Bên cạnh công việc chuyên môn, Phan Đình Diệu viết nhiều bài báo bàn về khoa học, giáo dục, đổi mới tư duy và hướng đi của nước ta khi hội nhập. Văn của ông mạch lạc, giàu lí lẽ, thấm đẫm tinh thần khoa học và niềm tin vào con người.
Thông tin tác phẩm Năng lực sáng tạo
Xuất xứ văn bản Năng lực sáng tạo
Văn bản được SGK trích từ sách Một góc nhìn của trí thức, tập bốn (nhiều tác giả), do NXB Trẻ (TP. Hồ Chí Minh) ấn hành năm 2004, các trang 200 – 205. Các chỗ lược bỏ được đánh dấu bằng dấu ngoặc vuông.
Năng lực sáng tạo thuộc thể loại gì?
Văn bản nghị luận xã hội, bàn về một vấn đề tư tưởng – nhận thức: khả năng sáng tạo của con người ở thời đại mới.
Phương thức biểu đạt chính
Nghị luận, có kết hợp yếu tố biểu cảm (niềm tin, niềm hi vọng của người viết ở cuối bài).
Luận đề và hệ thống luận điểm
Luận đề: ai ai cũng mang trong mình khả năng sáng tạo; đánh thức và nuôi lớn khả năng ấy là con đường để mỗi người sống có ý nghĩa và để đất nước theo kịp các nước khác khi kinh tế dựa ngày càng nhiều vào tri thức.
Các luận điểm:
- Thế nào là sáng tạo và khả năng sáng tạo; ý tưởng là cốt lõi của sáng tạo.
- Ai cũng có năng lực sáng tạo; muốn phát triển năng lực ấy cần niềm tin và những cách rèn luyện cụ thể.
- Bản chất chung và ý nghĩa của sáng tạo.
- Động lực, điều kiện và vai trò chiến lược của sáng tạo trong đời sống hôm nay.
Bố cục văn bản Năng lực sáng tạo có mấy phần?
Văn bản có thể chia làm 3 phần:
- Phần 1 (đoạn đầu): giải thích thế nào là sáng tạo, thế nào là năng lực ấy, và ý tưởng quan trọng ra sao.
- Phần 2 (đoạn 2 và 3): khẳng định ai cũng sáng tạo được, nêu các yếu tố phát triển năng lực đó và điểm chung của mọi sự sáng tạo.
- Phần 3 (hai đoạn cuối): sáng tạo cần động lực gì, có điều kiện nào, và quan trọng ra sao với cá nhân, tổ chức, quốc gia.
Giá trị nội dung
- Giúp người đọc hiểu đúng và đầy đủ về sáng tạo: không phải phép màu của thiên tài mà là thành quả của ý tưởng cộng với lao động kiên trì.
- Xóa bỏ định kiến sáng tạo là đặc quyền của số ít, khẳng định niềm tin vào khả năng sáng tạo của mỗi người.
- Nhấn mạnh rằng trong nền kinh tế dựa vào tri thức, sáng tạo có ý nghĩa sống còn, gửi gắm khát vọng đưa đất nước phát triển.
Giá trị nghệ thuật
- Lập luận chặt chẽ, luận điểm sắp xếp từ khái niệm đến vai trò, mạch lạc và dễ theo dõi.
- Phối hợp nhiều thao tác lập luận: giải thích, chứng minh, phân tích, bác bỏ, bình luận.
- Bằng chứng đa dạng, có uy tín: lời các nhà khoa học Poanh-ca-rê, Ê-đi-xơn, F. Ba-li-ba, danh sách chìa khóa của CoachVille, thực tế kinh tế thị trường.
- Giọng văn vừa khoa học vừa gần gũi, có những hình ảnh giàu sức gợi như ánh chớp ý tưởng, những “gió mây giông bão” của trí tuệ.
Ý nghĩa nhan đề Năng lực sáng tạo
Nhan đề nêu trực tiếp vấn đề nghị luận. Hai chữ “năng lực” cho thấy tác giả không bàn về những sáng tạo cụ thể mà bàn về khả năng nằm sẵn trong mỗi con người, thứ có thể được nuôi dưỡng và phát triển. Nhan đề ngắn gọn, khái quát và bao trùm toàn bộ nội dung văn bản.
Sơ đồ tư duy Năng lực sáng tạo

Lời kết
Qua Năng lực sáng tạo, nhà khoa học Phan Đình Diệu đã biến một khái niệm tưởng như trừu tượng thành lời nhắn gửi gần gũi: mỗi người hãy tin mình có thể sáng tạo và bền bỉ nuôi dưỡng khả năng ấy. Nắm chắc luận đề, luận điểm, bố cục và cách lập luận của văn bản sẽ giúp em học tốt Bài 3 và viết bài nghị luận về các vấn đề của tuổi trẻ.
Xem thêm: