Yêu cầu tóm tắt Mấy ý nghĩ về thơ thường xuất hiện khi học Bài 3 (Lập luận trong văn bản nghị luận) sách Ngữ văn 12 Kết nối tri thức, tập một. Văn bản là bài tiểu luận Nguyễn Đình Thi viết năm 1949, nên tóm tắt ở đây là thu gọn mạch lập luận: tác giả bác bỏ điều gì, khẳng định điều gì, dùng lí lẽ và dẫn chứng nào. Dưới đây là 7 mẫu từ rất ngắn đến chi tiết, có mẫu theo năm phần của SGK, có mẫu dạng bảng và sơ đồ để em chọn dùng. Muốn hiểu thêm về tác giả, em có thể đọc bài chân dung Nguyễn Đình Thi.
Sơ đồ tư duy tóm tắt Mấy ý nghĩ về thơ
Trước khi viết, em nên hình dung khung bài: năm phần nối nhau từ việc gạt bỏ những cách hiểu chưa đúng đến khẳng định bản chất của thơ rồi bàn về hình thức.

Sơ đồ dưới đây ghi ý chính của từng phần theo đúng thứ tự trong SGK.

Tóm tắt Mấy ý nghĩ về thơ ngắn nhất – mẫu 1
Nguyễn Đình Thi cho rằng các định nghĩa quen thuộc về thơ đều chưa đủ, vì gốc của thơ nằm ở lòng người. Thơ sống bằng cảm xúc, hình ảnh tươi mới, sức gợi của chữ và nhạc điệu bên trong, đi thẳng vào tình cảm người đọc. Vần hay không vần không quan trọng bằng việc thơ thật, thơ hay và nói được tâm hồn con người của thời đại mới.
Tóm tắt Mấy ý nghĩ về thơ trong một đoạn văn – mẫu 2
Trong bài tiểu luận viết năm 1949, Nguyễn Đình Thi mở đầu bằng việc xem xét ba cách hiểu phổ biến: thơ là lời đẹp, thơ cần đề tài đẹp, thơ khác văn xuôi vì dễ nhớ; ông chỉ ra cả ba đều chưa nắm được cốt lõi. Theo ông, nguồn của thơ ở ngay trong lòng người: cảnh vật chỉ hóa thành thơ khi tâm hồn đang rung động, và bài thơ đưa rung động ấy sang người đọc. Ý tưởng trong thơ tan vào cảm xúc, nên thơ không nói bằng khái niệm mà bằng hình ảnh mới mẻ, chân thực. Chữ trong thơ có sức gợi như ngọn nến tỏa sáng, thơ có nhạc bên trong và chỉ chạm vào vài điểm chính để làm rung cả toàn thể. Cuối cùng, tác giả khẳng định vấn đề không phải là có vần hay không mà là thơ thật hay thơ giả; hình thức có thể đổi mới, nhưng phải có kỉ luật tự giác.
Tóm tắt Mấy ý nghĩ về thơ theo 5 phần – mẫu 3
Phần 1: Định nghĩa nào về thơ cũng chưa trọn. Thơ không nhất thiết là lời hoa mĩ, bởi cả Hồ Xuân Hương lẫn Nguyễn Du đều dùng chữ nôm na; cũng không cần đề tài đẹp, vì Bô-đơ-le viết về xác chó, còn thơ thời nay viết về chiếc ba lô, hàng dây thép gai. Ý kiến cho rằng thơ dễ in vào trí nhớ thì tinh tế nhưng chưa giải thích được vì sao.
Phần 2: Đầu mối của thơ phải tìm trong tâm hồn. Ta thấy trời xanh, mưa chiều nên thơ là vì lòng mình đang có nỗi niềm. Làm thơ là thể hiện trạng thái tâm hồn xao động khác thường bằng lời và chữ; bài thơ trở thành sợi dây nối cảm xúc người viết với người đọc, còn người đọc tự làm sống lại cảm xúc ấy trong lòng.
Phần 3: Cảm xúc là phần máu thịt của tâm hồn; tư tưởng trong thơ gắn với đời sống, nằm trong cảm xúc. Vì thế thơ không dùng khái niệm thuần túy như triết học; một bài ca dao về mây trắng, mây vàng cho thấy lòng người hiểu nhanh hơn lí trí. Người làm thơ phải tìm được hình ảnh; hình ảnh thơ mới lạ vì được nhìn như lần đầu, mà vẫn là cái thực quanh ta.
Phần 4: Chữ trong thơ có sức gợi vượt khỏi nghĩa gọi tên sự vật, như những ngọn nến cùng tỏa thành vùng sáng. Nhạc của thơ là nhịp điệu bên trong của cảm xúc, hình ảnh, ở cả những khoảng lặng. Văn xuôi dẫn người đọc đi từng chặng, còn thơ đi thẳng vào tình cảm; thơ là sự kết tinh, đòi hỏi hoàn hảo.
Phần 5: Vần, luật là vũ khí mạnh, nhưng thiếu chúng thơ vẫn có thể thắng. Không có chuyện thơ vần hay không vần mà chỉ có thơ thật và thơ giả. Mỗi thời đại tìm ra hình thức của mình; điều cần lo là thơ nói được tâm hồn con người mới. Bỏ luật lệ bên ngoài, nghệ thuật vẫn cần kỉ luật tự giác từ bên trong.
Tóm tắt theo luận điểm, lí lẽ và dẫn chứng – mẫu 4
Mẫu dạng bảng phù hợp khi đề bài yêu cầu chỉ ra cấu trúc lập luận của văn bản.
| Luận điểm | Lí lẽ | Dẫn chứng tiêu biểu |
|---|---|---|
| Các cách hiểu quen thuộc chưa nắm được bản chất thơ | Lời đẹp, đề tài đẹp, tính dễ nhớ chỉ là biểu hiện bề ngoài | Chữ nôm na trong thơ Hồ Xuân Hương; câu thơ đời thường của Nguyễn Du; bài thơ về xác chó của Bô-đơ-le; công thức toán học dễ nhớ mà không phải thơ |
| Gốc của thơ nằm trong tâm hồn | Cảnh vật thành thơ khi lòng người có nỗi niềm; bài thơ truyền cảm xúc và người đọc tự tái tạo cảm xúc | Bầu trời xanh, cơn mưa phùn lúc chiều; người làm câu thơ tình rung động như có người yêu trước mặt |
| Thơ nói bằng cảm xúc và hình ảnh, không bằng khái niệm | Suy nghĩ trong thơ hòa vào cảm xúc; hình ảnh thơ mới vì được nhìn lần đầu, thực vì có trong đời | Bài ca dao về mây xanh, mây trắng, mây vàng và chuyện anh với nàng |
| Chữ và nhạc tạo nên sức gợi riêng của thơ | Chữ thơ mở rộng ra ngoài nghĩa; nhịp điệu là nhịp của tâm hồn; thơ chọn vài điểm chính | Câu Kiều “Chim hôm thoi thót về rừng”; hình ảnh ngọn nến; so sánh văn xuôi với dòng nước |
| Hình thức không phải thước đo giá trị | Vần là vũ khí nhưng không bắt buộc; thời đại mới tạo hình thức mới; cần kỉ luật tự giác | Cuộc bàn cãi về vần trong thơ đương thời; so sánh kỉ luật nghệ thuật với kỉ luật cách mạng |
Tóm tắt Mấy ý nghĩ về thơ theo ba bước lập luận – mẫu 5
Bước 1 – Gạt bỏ: Tác giả chỉ ra những cách hiểu thơ từ bên ngoài (lời lẽ đẹp, đề tài đẹp, dễ ghi nhớ) đều chưa đủ, vì thơ hay có thể dùng chữ đời thường, viết về đề tài tầm thường, còn cái dễ nhớ chưa chắc là thơ.
Bước 2 – Khẳng định: Thơ bắt nguồn từ tâm hồn đang rung động và truyền rung động ấy cho người đọc. Thơ sống bằng cảm xúc thấm đẫm suy nghĩ, bằng hình ảnh vừa lạ vừa thực, bằng chữ nghĩa giàu sức gợi cùng nhạc tính ẩn sâu; thơ đi thẳng tới tình cảm và đòi hỏi sự kết tinh trọn vẹn.
Bước 3 – Vận dụng: Từ quan niệm ấy, tác giả trả lời câu hỏi thời sự về vần: vần không phải tiêu chí phân định, chỉ có thơ thật và thơ giả. Hình thức thơ đổi thay theo thời đại; điều cốt yếu là diễn tả đúng tâm hồn con người mới, và người làm thơ cần tự đặt cho mình kỉ luật từ bên trong.
Tóm tắt Mấy ý nghĩ về thơ chi tiết – mẫu 6
Nguyễn Đình Thi mở đầu bài tiểu luận bằng nhận xét rằng mọi định nghĩa về thơ từ trước tới nay đều thiếu. Có người cho thơ là lời đẹp, nhưng Hồ Xuân Hương đã biến những chữ dân dã, nôm na thành câu thơ được truyền tụng, còn Nguyễn Du bên cạnh những câu chuốt lọc vẫn có những câu rất đời. Có người cho thơ phải nói về đề tài đẹp, nhưng Bô-đơ-le từng viết về một xác chó, và thơ kháng chiến nói tới chiếc xe đạp, khẩu súng, chiếc ba lô. Lại có ý kiến cho rằng thơ khắc sâu vào trí nhớ, nhưng nhận xét ấy chưa lí giải được nguyên do, bởi một công thức toán học cũng dễ nhớ mà không phải thơ.
Từ đó, tác giả đề nghị tìm gốc của thơ trong tâm hồn con người. Cảnh trời xanh hay buổi chiều mưa phùn chỉ gợi thơ vì lòng ta đang chứa một nỗi niềm. Làm thơ là dùng ngôn từ bày tỏ những rung động khác thường trong lòng người; làm thơ cũng là đang sống chứ không chỉ ngoái nhìn cuộc sống. Bài thơ chuyển cảm xúc sang người đọc, và người đọc, khi chạm vào chữ, vào hình ảnh, cũng tự tạo lại trạng thái tâm hồn ấy.
Tác giả tiếp tục bàn về cảm xúc và hình ảnh. Theo ông, đời sống tinh thần lấy cảm xúc làm cốt lõi, và mọi suy nghĩ trong thơ đều bén rễ từ đời sống, thấm vào cảm xúc. Bởi vậy thơ không nói bằng khái niệm thuần túy, và bài ca dao về những đám mây dẫn tới lời ước của chàng trai cho thấy tâm hồn hiểu được điều lí trí chưa giải thích nổi. Người làm thơ phải nhìn thấy hình ảnh trong ý nghĩ, tình cảm của mình; khi nhà thơ mở lòng giữa đời, hình ảnh tự tìm đến. Hình ảnh ấy luôn tinh khôi như vừa được phát hiện, nhưng vẫn là cái thực khiến ta bất ngờ nhận ra điều vẫn gặp mà chưa biết nhìn.
Sang chuyện ngôn từ, tác giả cho rằng mỗi chữ trong thơ ngoài nghĩa còn mở ra một vùng cảm xúc, hình ảnh; ông ví chữ như ngọn nến, ý thơ như ánh sáng lan ra xung quanh, và dẫn câu Kiều về cánh chim chiều. Nhạc của thơ không dừng ở bằng trắc mà nằm ở nhịp rung bên trong tâm hồn, ở cả quãng im giữa các chữ. So với văn xuôi vốn đưa người đọc đi tuần tự, thơ tìm lối ngắn nhất tới trái tim.
Phần cuối bàn về vần và thơ tự do. Luật lệ và vần điệu giúp người làm thơ rất nhiều, song không có chúng thì trận đánh chỉ gay go hơn chứ chưa chắc đã thua. Với tác giả, câu hỏi có vần hay không là đặt sai chỗ; điều cần phân biệt là thơ thật hay thơ giả. Những thời đại lớn thường tạo nên hình thức mới; vì thế đừng lo thơ theo hình thức nào mà nên lo sao cho thơ diễn đạt đúng những rung động của người đương thời. Bỏ luật lệ máy móc không phải để buông thả, mà để người làm thơ tự giác giữ nghiêm phép tắc của nghệ thuật, và khi ấy, giới hạn chỉ còn là sức đi xa của chính mình.
Tóm tắt Mấy ý nghĩ về thơ dạng sơ đồ luận đề – luận điểm – mẫu 7
Mẫu gạch đầu dòng giúp em ôn nhanh trước giờ kiểm tra.
- Luận đề: thơ là gì, thơ sống bằng gì và hình thức thơ nên ra sao.
- Luận điểm 1: lời đẹp, đề tài đẹp, dễ nhớ → chưa phải bản chất của thơ.
- Luận điểm 2: nguồn của thơ là tâm hồn rung động → bài thơ là nhịp cầu cảm xúc.
- Luận điểm 3: cảm xúc chứa tư tưởng, hình ảnh mới mà thực → thơ không nói bằng khái niệm.
- Luận điểm 4: chữ có sức gợi, nhạc bên trong, lối đi tắt tới trái tim → đòi hỏi hoàn hảo, cô đọng.
- Luận điểm 5: vần không quyết định → chỉ có thơ thật, thơ giả; hình thức theo thời đại, cần kỉ luật tự giác.
- Cách lập luận: bác bỏ trước, khẳng định sau; lí lẽ đi cùng dẫn chứng thơ và so sánh giàu hình ảnh.
Kết luận
Khi tóm tắt Mấy ý nghĩ về thơ, em cần giữ đúng trình tự năm phần và làm rõ hai mặt của lập luận: những ý kiến bị bác bỏ và quan niệm được khẳng định. Mẫu ngắn dùng cho câu hỏi nhanh, mẫu bảng hợp với phần đọc hiểu, còn mẫu chi tiết giúp em nắm chắc nội dung để viết bài nghị luận về thơ. Đọc thêm bài phân tích bài thơ Lá đỏ sẽ giúp em thấy quan niệm thơ của Nguyễn Đình Thi được thể hiện trong sáng tác của chính ông.
Xem thêm: