Mấy ý nghĩ về thơ của Nguyễn Đình Thi là văn bản đọc thứ ba của Bài 3 (Lập luận trong văn bản nghị luận) trong sách Ngữ văn 12 Kết nối tri thức, tập một. Bài viết dưới đây giúp em nắm nhanh những điều cần biết: mạch lập luận của văn bản, đôi nét về tác giả, thời điểm và nguồn in văn bản, thể loại, luận đề và hệ thống luận điểm, bố cục năm phần, giá trị nội dung, nghệ thuật lập luận cùng sơ đồ tư duy.
Nội dung văn bản Mấy ý nghĩ về thơ
Văn bản trong SGK là phần trích, được chia thành 5 phần đánh số, giữa các phần có chỗ lược bớt […]. Tác phẩm còn trong thời hạn bảo hộ bản quyền nên ở đây chỉ tóm lược ý từng phần kèm vài câu trích ngắn; toàn văn em đọc trong SGK.

Phần 1 – Những cách hiểu chưa đủ về thơ. Mở đầu, tác giả cho rằng định nghĩa nào về thơ cũng chưa trọn. Ông lần lượt xem xét ba ý kiến: thơ là lời đẹp, thơ phải viết về cái đẹp, thơ khác văn xuôi vì in sâu vào trí nhớ. Dẫn thơ Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Bô-đơ-le và cả những vật dụng của người lính kháng chiến đi vào thơ, ông chỉ ra mỗi ý kiến đều chưa chạm tới gốc rễ.
Phần 2 – Gốc của thơ ở trong tâm hồn. Bằng câu hỏi “Đầu mối của thơ có lẽ ta đi tìm bên trong tâm hồn con người chăng?”, tác giả chuyển sang quan niệm của mình. Trời xanh, mưa chiều chỉ thành thơ khi lòng người đang mang một nỗi niềm. Theo tác giả, làm thơ là mượn lời nói và chữ viết để bày tỏ những xao động bất thường của tâm hồn. “Bài thơ là sợi dây truyền tình cảm cho người đọc.”, và người đọc cũng chủ động tái tạo cảm xúc ấy trong lòng mình.
Phần 3 – Cảm xúc, tư tưởng và hình ảnh. “Thơ là tiếng nói đầu tiên, tiếng nói thứ nhất của tâm hồn khi đụng chạm với cuộc sống.” Thơ không thiếu suy nghĩ, song suy nghĩ ở đây quyện vào đời sống, tan vào cảm xúc; vì vậy thơ không nói bằng khái niệm như triết học. Một bài ca dao về mây trắng, mây vàng dẫn tới chuyện anh với nàng là ví dụ cho thấy tâm hồn hiểu được điều mà lí trí còn lúng túng. Nhà thơ phải tìm được hình ảnh; hình ảnh ấy luôn mới lạ vì được nhìn như lần đầu, nhưng vẫn là cái thực mà ta từng gặp.
Phần 4 – Chữ, nhạc và đường đi của thơ. Chữ trong thơ ngoài nghĩa thường còn có sức gợi, tỏa ra một vùng cảm xúc, hình ảnh. Tác giả ví: “Mỗi chữ như một ngọn nến đang cháy”, các ngọn nến xếp cạnh nhau tạo nên vùng sáng chung. Nhạc của thơ không chỉ là bằng trắc bổng trầm mà là nhịp điệu bên trong của tâm hồn. Văn xuôi dẫn ta qua từng chặng, còn thơ chỉ chọn vài điểm chính mà làm rung động cả toàn thể.
Phần 5 – Vần và thơ tự do. Luật lệ, vần điệu là vũ khí mạnh nhưng thiếu chúng thì nhà thơ vẫn có thể thành công, chỉ là khó khăn hơn. Theo tác giả, “Chỉ có thơ thực và thơ giả, thơ hay và thơ không hay, thơ và không thơ.” Mỗi thời đại mới thường tìm tới hình thức mới; điều cần lo là thơ diễn tả đúng tâm hồn con người hôm nay. Thoát khỏi luật lệ máy móc, nghệ thuật vẫn cần thứ kỉ luật tự giác từ bên trong.
Thông tin tác giả Nguyễn Đình Thi
Nguyễn Đình Thi (1924 – 2003) có quê gốc ở làng Vũ Thạch, Hà Nội (nay thuộc khu phố Bà Triệu). Ông chào đời và sống những năm đầu tiên ở Lào, đến năm 1931 mới cùng gia đình về nước. Năm 1941, ông bắt đầu đi theo cách mạng, về sau đảm nhiệm nhiều cương vị quan trọng trong giới văn hóa, văn nghệ.
Ông là một nghệ sĩ hiếm có ở sự đa tài: làm thơ, viết tiểu thuyết, soạn kịch, sáng tác ca khúc và viết lí luận phê bình. Ở lĩnh vực nào ông cũng để lại dấu ấn; riêng thơ có nhiều tìm tòi mới mẻ về hình thức, nổi bật là lối thơ không vần thời kháng chiến chống Pháp. Một số tác phẩm tiêu biểu:
- Thơ: Người chiến sĩ (năm 1956), Dòng sông trong xanh (năm 1974), Tia nắng (năm 1983); bài thơ Đất nước được học trong nhà trường.
- Tiểu thuyết: Xung kích (năm 1951), Vào lửa (năm 1966), Mặt trận trên cao (năm 1967).
- Kịch: Con nai đen (năm 1961), Hoa và Ngần (năm 1975), Rừng trúc (năm 1978), Hòn Cuội (năm 1987).
- Tiểu luận: Mấy vấn đề văn học (năm 1956), Công việc của người viết tiểu thuyết (năm 1964).
Muốn tìm hiểu kĩ hơn, em có thể đọc bài phong cách sáng tác của Nguyễn Đình Thi và trang tổng hợp tác phẩm Nguyễn Đình Thi.
Thông tin tác phẩm Mấy ý nghĩ về thơ
Hoàn cảnh ra đời
Văn bản ghi ngày 12/9/1949, tức là được viết giữa những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Lúc ấy, thơ ca đang chuyển mình để nói tiếng nói của con người mới, và chuyện thơ có cần vần hay không đang được giới văn nghệ tranh cãi – chính văn bản cũng nhắc tới cuộc bàn cãi này. Nhiều tài liệu cho biết bài viết gắn với hội nghị tranh luận văn nghệ tổ chức ở Việt Bắc năm 1949. Đây cũng là thời kì Nguyễn Đình Thi thử nghiệm lối thơ không vần, nên bài tiểu luận vừa là suy nghĩ lí luận vừa là lời tự bạch của một người trong cuộc.
Xuất xứ của văn bản
Về sau, bài tiểu luận có mặt trong tập Mấy vấn đề văn học. SGK Ngữ văn 12 Kết nối tri thức trích theo Tuyển tác phẩm văn học Nguyễn Đình Thi, phần tiểu luận và bút kí, do NXB Văn học ấn hành năm 2001 (SGK dẫn lại từ sách Ngữ văn 12 Nâng cao).
Thể loại và phương thức biểu đạt
- Thể loại: văn bản nghị luận, cụ thể là một bài tiểu luận lí luận văn học (bàn về bản chất và hình thức của thơ).
- Phương thức biểu đạt: chủ yếu dùng lập luận, đan xen biểu cảm, khiến văn bản có giọng điệu vừa chính luận vừa trữ tình.
Luận đề và hệ thống luận điểm
Luận đề: bản chất của thơ và một số yếu tố làm nên thơ, từ đó bàn về vấn đề hình thức (vần, thơ tự do) của thơ thời đại mới.
Hệ thống luận điểm:
- Các cách hiểu thơ là lời đẹp, đề tài đẹp, dễ in vào trí nhớ đều chưa nắm được bản chất của thơ.
- Gốc của thơ nằm trong tâm hồn; bài thơ là phương tiện truyền rung cảm từ nhà thơ đến người đọc.
- Thơ cất lên từ cảm xúc, tư tưởng thơ hòa trong cảm xúc; thơ tác động bằng hình ảnh mới mẻ mà chân thực.
- Chữ trong thơ có sức gợi vượt ngoài nghĩa; thơ có nhạc điệu bên trong và đi thẳng tới tình cảm.
- Vần và luật lệ không quyết định; điều quan trọng là thơ thực, thơ hay, thể hiện đúng tâm hồn con người mới.
Bố cục Mấy ý nghĩ về thơ có mấy phần?
Văn bản gồm 5 phần được đánh số trong SGK:
- Phần 1 (từ đầu đến “không phải là thơ”): nhận xét một số cách hiểu về thơ.
- Phần 2 (tiếp đến “xung quanh ngọn lửa”): đầu mối của thơ ở tâm hồn; bài thơ truyền cảm xúc cho người đọc.
- Phần 3 (tiếp đến “mà không biết nhìn”): cảm xúc, tư tưởng và hình ảnh trong thơ.
- Phần 4 (tiếp đến “đòi hỏi sự toàn bích”): sức gợi của chữ, nhạc điệu và đường đi riêng của thơ.
- Phần 5 (còn lại): vấn đề vần, thơ tự do và hình thức thơ của thời đại mới.
Có thể gộp thành ba khối lớn: bác bỏ những cách hiểu chưa đúng (phần 1); trình bày thơ là gì và sống bằng gì (phần 2 – 4); bàn về hình thức thơ (phần 5).
Giá trị nội dung
Văn bản đưa ra một quan niệm sâu sắc và tiến bộ về thơ: thơ cất lên từ một tâm hồn rung động trước cuộc đời, sống bằng cảm xúc, hình ảnh, sức gợi của chữ và nhạc điệu bên trong; hình thức thơ có thể đổi thay, miễn là thơ thật và nói được tâm hồn con người của thời đại. Ra đời từ năm 1949, những ý kiến ấy tới hôm nay vẫn đứng vững, giúp người đọc hiểu thơ đúng hơn và giúp người viết có định hướng khi sáng tạo.
Nghệ thuật lập luận
- Đi từ bác bỏ đến khẳng định: gạt những cách hiểu chưa đủ rồi mới trình bày ý kiến riêng.
- Luận điểm được sắp xếp từ bản chất (tâm hồn, cảm xúc) đến các yếu tố biểu hiện (hình ảnh, chữ, nhạc) rồi tới vấn đề hình thức.
- Dẫn chứng phong phú: thơ Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Bô-đơ-le, ca dao, câu Kiều “Chim hôm thoi thót về rừng”.
- Nhiều so sánh giàu hình ảnh: chữ như ngọn nến, văn xuôi như dòng nước, luật lệ thơ như vũ khí, kỉ luật nghệ thuật như kỉ luật cách mạng.
- Giọng văn thân tình, như lời trò chuyện của một người làm thơ với bạn đọc và bạn viết; lí lẽ chặt chẽ mà vẫn đậm chất thơ.
Ý nghĩa nhan đề
Nhan đề Mấy ý nghĩ về thơ mang sắc thái khiêm tốn: tác giả không tự nhận đưa ra một định nghĩa hay một học thuyết hoàn chỉnh mà chỉ chia sẻ vài suy nghĩ. Cách đặt tên ấy phù hợp với ý mở đầu văn bản (định nghĩa nào về thơ cũng chưa đủ) và với giọng trò chuyện cởi mở của cả bài.
Sơ đồ tư duy Mấy ý nghĩ về thơ
Sơ đồ dưới đây tóm lược sáu ý chính cần nhớ về tác giả và tác phẩm.

Lời kết
Mấy ý nghĩ về thơ vừa là bài học về cách lập luận, vừa là bài học về cách đọc thơ. Nắm hoàn cảnh ra đời năm 1949, năm phần của văn bản, hệ thống luận điểm và những so sánh giàu hình ảnh của Nguyễn Đình Thi sẽ giúp em soạn bài, làm đọc hiểu và vận dụng vào bài nghị luận văn học tốt hơn. Muốn thấy quan niệm ấy hiện lên trong chính thơ ông, em có thể đọc thêm bài phân tích bài thơ Lá đỏ.
Xem thêm: