Bài soạn Năng lực sáng tạo (Phan Đình Diệu) hướng dẫn làm câu hỏi trước khi đọc, bảy câu hỏi theo dõi, sáu câu hỏi sau khi đọc (trang 71) và đề viết kết nối với đọc trong Bài 3 (chủ đề: lập luận trong văn bản nghị luận), sách Ngữ văn 12 Kết nối tri thức tập một. Đây là văn bản đọc thứ hai của bài học, đứng giữa hai văn bản viết về vốn văn hóa dân tộc và về thơ.
Tìm hiểu chung: tác giả, xuất xứ, bố cục
Trước khi trả lời câu hỏi, em nên nắm vài thông tin chính về tác giả và văn bản.

- Tác giả: Phan Đình Diệu, sinh năm 1936, mất năm 2018, người Hà Tĩnh, nhà toán học, một trong những người đặt nền móng cho ngành tin học nước ta, đồng thời viết nhiều bài báo bàn về khoa học, giáo dục và sự phát triển của đất nước.
- Xuất xứ: SGK trích từ sách Một góc nhìn của trí thức, tập bốn (nhiều tác giả), NXB Trẻ, 2004.
- Thể loại: văn bản nghị luận xã hội bàn về một vấn đề tư tưởng.
- Luận đề: ai cũng mang sẵn khả năng sáng tạo, và đánh thức khả năng ấy là điều hệ trọng với từng người cũng như với cả dân tộc.
- Bố cục: ba phần – giải thích thế nào là sáng tạo, thế nào là người có tố chất sáng tạo và ý tưởng quan trọng ra sao; khẳng định ai cũng có năng lực sáng tạo, nêu cách phát triển khả năng ấy và điểm chung của mọi sự sáng tạo; bàn về động lực, điều kiện và ý nghĩa của sáng tạo khi tri thức trở thành nguồn lực kinh tế chủ yếu.
Trước khi đọc: những thành tựu sáng tạo gần đây
Câu hỏi (trang 68): Thành tựu sáng tạo nổi bật và điểm chung của chúng
Kể một vài thành quả sáng tạo nổi bật gần đây mà em biết và chỉ ra điểm chung lớn nhất giữa chúng.
Trả lời:
- Một số thành tựu em biết: các trợ lí trí tuệ nhân tạo có thể trò chuyện, dịch thuật, hỗ trợ học tập; vắc-xin công nghệ mRNA được phát triển nhanh trong đại dịch Covid-19; tên lửa đẩy tái sử dụng giúp giảm chi phí phóng vệ tinh; kính viễn vọng không gian James Webb gửi về những bức ảnh vũ trụ xa xôi chưa từng thấy; ở Việt Nam, nhiều nông dân tự chế máy gieo hạt, máy bóc vỏ giúp giảm sức lao động.
- Điểm chung: mọi thành tựu khởi đi từ một ý tưởng mới, qua nhiều lần thử nghiệm kiên trì, rồi giải quyết được một vấn đề có thật. Những đột phá ấy không chỉ đến từ phòng thí nghiệm lớn mà có thể nảy sinh ở bất cứ ai chịu quan sát và dám nghĩ khác.
Đọc văn bản: trả lời câu hỏi theo dõi
Theo dõi 1 (trang 68): Tác giả giải thích hai khái niệm như thế nào?
Trả lời: Tác giả thừa nhận khó có một định nghĩa thật rõ ràng, rồi giải thích bằng cách nêu đặc trưng: sáng tạo là hoạt động tinh thần chỉ con người mới có, kết quả thường là những phát minh, phát hiện mới lạ, độc đáo; tính mới và tính độc đáo là cốt lõi của sản phẩm sáng tạo. Còn năng lực sáng tạo gắn với khả năng tư duy và sức tưởng tượng, những thứ không thể thiếu để có được cái mới. Tác giả dẫn thêm công thức của nhà vật lí F. Ba-li-ba nói về thiên tài Anh-xtanh để minh họa.
Theo dõi 2 (trang 68): Vai trò của ý tưởng trong sáng tạo
Trả lời: Ý tưởng là điều cốt lõi của mọi tiến trình sáng tạo. Mượn lời Poanh-ca-rê, tác giả ví “ý tưởng chỉ là những ánh chớp” nhưng chính ánh chớp ấy quyết định tất cả. Ánh chớp không tự đến trong trời quang; nó chỉ lóe lên sau một quá trình tích lũy trí tuệ bền bỉ, vì vậy người sáng tạo phải lao động cần mẫn để tạo ra những “gió mây giông bão” trong đầu óc mình.
Theo dõi 3 (trang 69): Phạm vi của hoạt động sáng tạo
Trả lời: Trước đây người ta thường nghĩ sáng tạo là việc của giới trí thức (nhà khoa học, nhà văn, nghệ sĩ). Tác giả mở rộng phạm vi ấy: khi kinh tế dựa vào tri thức, sức cạnh tranh phải đến từ tất cả những ai trực tiếp làm ra của cải, buôn bán, nghĩa là từ toàn xã hội. Vì thế, tác giả khẳng định: “mọi người đều tham gia sáng tạo, và mọi người đều có năng lực sáng tạo”.
Theo dõi 4 (trang 69): Những yếu tố quyết định năng lực sáng tạo
Trả lời: Theo tác giả, yếu tố đầu tiên là phải tin bản thân có khả năng sáng tạo; danh sách mười chìa khóa của tổ chức CoachVille cũng xếp điều này ở vị trí số một. Chín chìa khóa còn lại gồm: mở rộng mối quan tâm; tích lũy thêm cảm xúc, ấn tượng, thông tin; tìm mối liên hệ giữa các sự vật, kể cả liên hệ bất ngờ; bỏ những thói quen cản trở cái mới; tạo môi trường dễ chịu; sắp xếp thời gian hợp lí, có nghỉ ngơi; kiên trì; mở mọi giác quan để đón nhận tri thức trực giác; biết quên bớt điều đã biết để giữ đầu óc trong trẻo.
Theo dõi 5 (trang 70): Bản chất chung của hoạt động sáng tạo và ý nghĩa
Trả lời: Bản chất chung là tìm ra cái mới: tri thức mới, cách dùng mới cho kiến thức cũ, phương pháp hay giải pháp mới cho vấn đề tưởng đã cũ, tóm lại là đem đến điều mới để tháo gỡ khó khăn trong cuộc sống. Ý nghĩa của sáng tạo không nhất thiết là danh tiếng; với người bình thường, đó là niềm vui lặng lẽ khi thấy đời sống của mình có ý nghĩa.
Theo dõi 6 (trang 70): Năng lực sáng tạo với nền kinh tế tri thức
Trả lời: Khi kinh tế tri thức lan ra toàn cầu, sáng tạo trở thành chiếc chìa khóa quan trọng nhất để mỗi nước hội nhập và cạnh tranh. Vì vậy, chăm lo cho khả năng sáng tạo không còn là chuyện riêng của từng người mà là vấn đề chiến lược của cả quốc gia.
Theo dõi 7 (trang 70): Điều kiện để sáng tạo phát triển hôm nay
Trả lời: Sáng tạo vốn là việc của từng bộ óc, nhưng ngày nay nó được nuôi dưỡng bởi sự gặp gỡ, trao đổi giữa nhiều người (ý tưởng này gợi ra ý tưởng khác) và bởi công nghệ thông tin, truyền thông với kho dữ liệu khổng lồ cùng các công cụ phân tích dữ liệu ngày một tinh vi. Khi trí tuệ con người kết hợp với sức mạnh công nghệ, sức sáng tạo của cả dân tộc sẽ được nâng lên.
Sau khi đọc: trả lời câu hỏi trang 71
Câu 1 (trang 71): Luận đề và nhan đề của văn bản
Theo bạn, luận đề của văn bản có được thể hiện rõ ở nhan đề không? Nhận xét mức độ phù hợp giữa nội dung của văn bản và nhan đề.
Trả lời:
- Nhan đề Năng lực sáng tạo mới nêu ra vấn đề được bàn chứ chưa nói hết luận đề. Đọc toàn văn bản, người đọc mới thấy quan điểm của tác giả: ai cũng có năng lực sáng tạo, và phát huy năng lực ấy là yêu cầu sống còn trong thời đại mới.
- Dù vậy, nhan đề rất phù hợp với nội dung: mọi phần của văn bản đều xoay quanh cụm từ này, từ khái niệm, phạm vi, các yếu tố quyết định, bản chất cho tới vai trò của nó. Nhan đề ngắn gọn, khái quát, giúp người đọc nhận ngay chủ đề.
Câu 2 (trang 71): Các luận điểm và mối quan hệ giữa chúng
Khi bàn về năng lực sáng tạo của con người, tác giả đã triển khai những luận điểm nào? Nêu mối quan hệ giữa các luận điểm đó.
Trả lời:
- Luận điểm 1: Giải thích thế nào là sáng tạo và năng lực của người sáng tạo; ý tưởng là cốt lõi của tiến trình sáng tạo.
- Luận điểm 2: Ai cũng có khả năng sáng tạo; muốn phát triển năng lực ấy, trước hết phải tin mình là người sáng tạo, sau đó rèn luyện theo những “chìa khóa” cụ thể.
- Luận điểm 3: Mọi sự sáng tạo đều hướng tới cái mới để giải quyết vấn đề của cuộc sống; sáng tạo đem lại cho người bình thường niềm vui vì thấy đời mình có ý nghĩa.
- Luận điểm 4: Sáng tạo là lao động vất vả nên cần động lực; khi kinh tế dựa vào tri thức, sáng tạo là việc hệ trọng mang tầm chiến lược quốc gia, được nâng đỡ bởi sự hợp tác và công nghệ, gắn với vận mệnh của đất nước và của mỗi người.
- Mối quan hệ: các luận điểm đi từ câu hỏi là gì (khái niệm, cốt lõi) đến của ai (phạm vi), làm thế nào (cách phát triển), rồi để làm gì (bản chất, ý nghĩa, vai trò). Luận điểm trước làm nền cho luận điểm sau, cùng hướng về luận đề chung, nhờ đó văn bản chặt chẽ và dễ theo dõi.
Câu 3 (trang 71): Cách dùng lí lẽ, bằng chứng; trích dẫn lời nhà khoa học
Nhận xét về cách sử dụng lí lẽ và bằng chứng của tác giả. Việc trích dẫn các câu nói của một số nhà khoa học nổi tiếng có phải là một cách nêu bằng chứng không? Vì sao?
Trả lời:
- Lí lẽ: chặt chẽ, có tính phản biện. Ví dụ, tác giả đặt câu hỏi liệu sức cạnh tranh có chỉ do giới trí thức tạo ra, rồi lập luận rằng nền kinh tế được làm nên bởi tất cả người lao động, nên năng lực sáng tạo cũng phải đến từ mọi người. Lí lẽ đi từ hiểu biết chung đến kết luận mới, khiến người đọc dễ đồng tình.
- Bằng chứng: phong phú và đáng tin: lời của F. Ba-li-ba về Anh-xtanh, câu nói của Poanh-ca-rê, câu nói quen thuộc của Ê-đi-xơn, danh sách mười chìa khóa của CoachVille, thực tế của kinh tế thị trường và kinh tế tri thức.
- Trích dẫn lời nhà khoa học có phải là bằng chứng không? Có. Đó là dạng bằng chứng dựa vào ý kiến của người có uy tín, được đúc kết từ chính trải nghiệm sáng tạo của họ. Chẳng hạn, câu “Trong mỗi phát minh có 1% cảm hứng và 99% việc đổ mồ hôi” của Ê-đi-xơn chứng minh cho nhận định sáng tạo là lao động vất vả. Những câu nói ấy làm tăng sức thuyết phục vì người đọc tin vào kinh nghiệm thật của những bộ óc lớn.
Câu 4 (trang 71): Các thao tác nghị luận và tác dụng
Những thao tác nghị luận nào được tác giả sử dụng để làm nổi bật vấn đề năng lực sáng tạo của con người? Phân tích tác dụng của việc phối hợp các thao tác đó.
Trả lời:
| Thao tác | Biểu hiện trong văn bản |
|---|---|
| Giải thích | Làm rõ khái niệm sáng tạo, khái niệm năng lực ấy và vai trò của ý tưởng. |
| Phân tích | Chia nhỏ những điều giúp nuôi dưỡng sáng tạo (mười chìa khóa), các động lực của sáng tạo qua từng thời kì. |
| Chứng minh | Dẫn lời Poanh-ca-rê, Ê-đi-xơn, F. Ba-li-ba; nêu thực tế kinh tế tri thức. |
| Bác bỏ | Phản bác quan niệm cũ coi sáng tạo là đặc quyền của giới trí thức. |
| Bình luận | Đánh giá ý nghĩa của sáng tạo với người bình thường, với doanh nghiệp, với vận mệnh quốc gia. |
Tác dụng: các thao tác bổ trợ cho nhau. Giải thích giúp người đọc hiểu đúng vấn đề; phân tích, chứng minh làm vấn đề cụ thể và đáng tin; bác bỏ tạo điểm nhấn mới mẻ cho quan điểm của tác giả; bình luận nâng vấn đề lên tầm ý nghĩa xã hội. Nhờ sự phối hợp ấy, bài viết vừa sâu vừa rộng, vừa giàu lí trí vừa có sức lay động.
Câu 5 (trang 71): Vai trò của năng lực sáng tạo với mỗi người và đất nước
Trong bối cảnh cuộc sống hiện đại, năng lực sáng tạo có vai trò như thế nào đối với mỗi người và đối với đất nước?
Trả lời:
- Với mỗi người: năng lực sáng tạo giúp ta không bị bỏ lại khi công việc và công nghệ thay đổi rất nhanh; giúp ta tìm ra cách làm tốt hơn trong học tập, lao động; và quan trọng hơn, cho ta cảm giác sống có ý nghĩa vì mình đã góp một điều gì đó mới mẻ.
- Với đất nước: khi tri thức trở thành động lực kinh tế, sáng tạo là nguồn lực quyết định sức cạnh tranh, khả năng hội nhập và vị thế quốc gia. Như tác giả nhận định, đó là vấn đề hưng vong của đất nước; muốn tiến kịp các nước thì phải đánh thức sức sáng tạo của toàn dân.
Câu 6 (trang 71): Tư tưởng của tác giả khi bàn về năng lực sáng tạo
Tác giả thể hiện tư tưởng gì khi bàn về vấn đề năng lực sáng tạo của con người?
Trả lời: Bài viết cho thấy một tư tưởng dân chủ và đầy tin tưởng vào con người: sáng tạo không phải đặc quyền của số ít mà là phẩm chất tự nhiên của mọi người, chỉ cần được đánh thức bằng niềm tin và sự rèn luyện. Đồng thời, ông đặt năng lực sáng tạo trong mối quan hệ hài hòa giữa lợi ích riêng và lợi ích chung, coi đó là con đường để đất nước “tiến kịp thế giới, tiến cùng thế giới”. Đây là tầm nhìn của một nhà khoa học luôn trăn trở với sự phát triển của dân tộc.
Kết nối đọc – viết (trang 71)
Đề bài: viết một đoạn văn chừng 150 chữ để bàn luận: sáng tạo có làm cho đời sống của mỗi người thêm ý nghĩa hay không?
Đoạn văn tham khảo 1
Tôi tin rằng sáng tạo thực sự làm cuộc sống của mỗi người thêm ý nghĩa. Sáng tạo không chỉ là phát minh ra máy móc hay viết nên kiệt tác; một bạn học sinh nghĩ ra cách ghi nhớ bài nhanh hơn, một bác nông dân chế chiếc máy nhỏ để đỡ vất vả, một người mẹ biến tấu món ăn cho con thích thú cũng đang sáng tạo. Khi tạo ra một điều mới, dù nhỏ, ta cảm thấy mình không sống thụ động mà đang góp phần làm đời sống tốt đẹp hơn. Phan Đình Diệu gọi đó là thứ hạnh phúc thầm lặng của người bình thường, không cần danh tiếng mà vẫn đủ đầy. Ngược lại, người chỉ lặp lại thói quen cũ dễ thấy ngày nào cũng giống ngày nào. Vì vậy, mỗi chúng ta nên tin vào sức sáng tạo của bản thân và dám thử nghĩ khác trong những việc thường ngày.
Đoạn văn tham khảo 2
Sự sáng tạo giống như ngọn lửa nhỏ thắp sáng từng ngày sống của con người. Khi được sáng tạo, ta không còn là người đi theo lối mòn mà trở thành người chủ động tìm câu trả lời cho những vấn đề của chính mình. Mỗi ý tưởng mới được thực hiện thành công mang lại cảm giác tự hào và niềm tin rằng bản thân có giá trị. Hơn thế, sáng tạo còn giúp ta kết nối với người khác: một sáng kiến tốt có thể làm lợi cho cả lớp học, cả xóm làng, thậm chí cả xã hội. Tất nhiên, sáng tạo đòi hỏi sự kiên trì, chấp nhận thất bại và lao động nghiêm túc. Nhưng chính hành trình vất vả ấy lại khiến thành quả trở nên đáng quý. Với tôi, sống có sáng tạo là sống trọn vẹn hơn, có mục đích hơn và có ích hơn.
Kết luận
Qua bài soạn, em cần nắm: văn bản Năng lực sáng tạo của Phan Đình Diệu là một bài nghị luận chặt chẽ, đi từ khái niệm đến phạm vi, cách phát triển và vai trò của khả năng ấy, khẳng định ai cũng sáng tạo được và đó là chìa khóa phát triển của cá nhân, đất nước. Cách phối hợp nhiều thao tác lập luận cùng hệ thống bằng chứng đa dạng là điểm em cần học để viết bài nghị luận trong Bài 3.
Xem thêm: