Khởi ngữ là thành phần câu đứng trước chủ ngữ, dùng để nêu lên đề tài, tức là cái được nói tới trong câu. Trong câu “Quyển truyện ấy, tôi đọc ba lần rồi”, cụm quyển truyện ấy là khởi ngữ. Hỏi khởi ngữ là thành phần gì thì đó là thành phần “mở đề” của câu: nêu chuyện trước, rồi phần chủ ngữ – vị ngữ mới nói về chuyện ấy.
| Khái niệm | Thành phần đứng trước chủ ngữ, nêu đề tài được nói tới trong câu |
| Nghĩa của tên gọi | Khởi (起): bắt đầu, dấy lên; ngữ (語): lời. Khởi ngữ là phần lời mở đầu câu |
| Thuộc | Thành phần câu nằm ngoài nòng cốt chủ ngữ – vị ngữ; học ở Ngữ văn 9 |
| Dấu hiệu nhận biết | Đứng trước chủ ngữ; thêm được “về”, “đối với”, “còn” phía trước; thường có “thì” hoặc dấu phẩy phía sau |

Khởi ngữ trong sách Ngữ văn 9
Học sinh gặp bài Khởi ngữ ở Ngữ văn 9, tập hai (sách theo chương trình cũ), ngay sau văn bản nghị luận của Chu Quang Tiềm mà bây giờ vẫn còn trong bài soạn Bàn về đọc sách. Phần ghi nhớ của sách nêu gọn: khởi ngữ là thành phần câu đứng trước chủ ngữ để nêu lên đề tài được nói đến trong câu, và trước khởi ngữ thường có thể thêm các quan hệ từ về, đối với.
Điểm đáng nhớ nhất là khởi ngữ không phải chủ ngữ. Hãy xem câu tự đặt: “Còn bài thơ này, em chưa thuộc.” Khởi ngữ là còn bài thơ này; chủ ngữ là em, vì “em” mới là người thực hiện hành động “chưa thuộc”. Bỏ khởi ngữ đi, ta vẫn còn một câu đủ nghĩa (“Em chưa thuộc”), chỉ là không rõ chưa thuộc cái gì. Muốn ôn kĩ cách xác định nòng cốt câu trước khi học khởi ngữ, xem phần cách xác định chủ ngữ trong một câu.
Về tên gọi, chữ khởi là chữ 起 trong khởi đầu, khởi hành; chữ ngữ là 語, lời nói. Tên gọi đã nói đúng chức năng: phần lời mở màn, giới thiệu chủ đề trước khi vào chuyện.
Chữ khởi ấy còn có mặt trong cả một họ từ như khởi nghĩa, khởi sắc, phấn khởi; bài giải nghĩa chữ khởi 起 gom chúng lại cho dễ nhớ.
Nhận ra khởi ngữ nhờ vị trí, quan hệ từ và chữ “thì”
Có bốn dấu hiệu, dùng phối hợp sẽ chắc hơn dùng riêng lẻ:
- Vị trí: luôn đứng đầu câu, trước chủ ngữ. Thành phần nào đứng sau chủ ngữ thì không thể là khởi ngữ.
- Không làm chủ thể của vị ngữ: khởi ngữ không trả lời câu hỏi “ai làm?”, “cái gì thế nào?” cho vị ngữ. Việc đó đã có chủ ngữ đảm nhận.
- Thêm được quan hệ từ: đặt “về”, “đối với” hoặc “còn” vào trước mà câu vẫn xuôi. “Về môn Toán, nó học rất chắc” vẫn đúng ngữ pháp.
- Có “thì” hoặc dấu phẩy phía sau: trợ từ thì hay dấu phẩy tách khởi ngữ khỏi phần còn lại. Chữ “thì” ở đây là một trợ từ nhấn mạnh, bài trợ từ và những từ như thì, là, mà giải thích kĩ hơn.
Một mẹo kiểm tra: bỏ khởi ngữ ra khỏi câu. Nếu phần còn lại vẫn là một câu có đủ chủ ngữ, vị ngữ thì phần vừa bỏ nhiều khả năng là khởi ngữ.
Ba dạng khởi ngữ hay gặp
| Dạng | Đặc điểm | Ví dụ tự đặt |
|---|---|---|
| Nêu đối tượng | Khởi ngữ là danh từ, cụm danh từ chỉ sự vật được bàn tới; chủ ngữ là người khác | Chiếc xe đạp cũ, ông nội vẫn giữ trong kho. |
| Lặp lại từ ngữ ở vị ngữ | Khởi ngữ là chính động từ, tính từ của vị ngữ, được đưa lên đầu để nhấn mạnh | Đẹp thì bức tranh này đẹp thật, nhưng hơi tối. |
| Có quan hệ từ đi trước | Mở đầu bằng “về”, “đối với”, “còn” | Đối với chuyện chọn ngành, bố mẹ để em tự quyết. |
Dạng thứ hai thú vị nhất vì nó hay đi thành cặp đối lập: “Hiểu thì tôi hiểu, nhưng làm thì chưa làm được.” Hai khởi ngữ hiểu, làm đặt cạnh nhau làm nổi rõ chỗ khác biệt giữa biết và làm.
Khởi ngữ trong Làng, Lão Hạc và Lặng lẽ Sa Pa
Phần luyện tập của sách giáo khoa lấy ví dụ từ ba truyện ngắn quen thuộc. Mỗi câu cho thấy khởi ngữ làm một việc hơi khác.
“Điều này” trong truyện Làng
Kim Lân kể ông Hai không biết chữ, phải đứng nghe lỏm người khác đọc báo, rồi chốt: “Điều này ông khổ tâm hết sức.” Khởi ngữ điều này gói cả việc vừa kể thành một đề tài, và chủ ngữ ông theo sau. Nhờ vậy câu văn nối chặt với câu trước, đồng thời dồn sức nặng vào nỗi khổ tâm của nhân vật.
“Đối với chúng mình” trong lời lão Hạc
Câu nói của lão Hạc với ông giáo: “Đối với chúng mình thì thế là sung sướng.” Khởi ngữ có quan hệ từ đối với và trợ từ thì đi kèm. Nó khoanh phạm vi: cái “sung sướng” ấy chỉ đúng với những người nghèo như lão. Câu nói nghe nhẹ mà chua xót, có thể đọc lại trong bài soạn truyện Lão Hạc theo Cánh diều.
“Làm khí tượng” trong lời anh thanh niên
Trong truyện của Nguyễn Thành Long, anh thanh niên nói về nghề của mình: “Làm khí tượng, ở được cao thế mới là lí tưởng chứ.” Khởi ngữ làm khí tượng nêu đề tài là công việc, phần sau nói lên niềm say mê. Đặt nghề lên đầu câu, anh như muốn khoe ngay cái nghề mình yêu. Cùng truyện có câu “Đối với cháu, thật là đột ngột”, khởi ngữ ở đây cho thấy anh đang nói về cảm nhận riêng của mình. Xem toàn bộ văn bản trong soạn truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa.
Khởi ngữ, trạng ngữ và chủ ngữ: đặt cạnh nhau
| Tiêu chí | Khởi ngữ | Trạng ngữ | Chủ ngữ |
|---|---|---|---|
| Nêu gì | Đề tài của câu | Hoàn cảnh: thời gian, nơi chốn, nguyên nhân, mục đích | Chủ thể của hành động, trạng thái ở vị ngữ |
| Vị trí | Đầu câu, trước chủ ngữ | Đầu, giữa hoặc cuối câu | Thường trước vị ngữ |
| Từ đi kèm | về, đối với, còn; thì | vào, lúc, ở, vì, để… | Không cần |
| Ví dụ | Về bài này, em đã hiểu. | Sáng nay, em đã hiểu bài. | Em đã hiểu bài. |
Chỗ dễ nhầm nhất là giữa khởi ngữ và trạng ngữ, vì cả hai cùng đứng đầu câu, cùng có dấu phẩy. Hãy hỏi phần đầu câu đang nêu “chuyện gì” hay nêu “khi nào, ở đâu, vì sao”. Nêu chuyện là khởi ngữ; nêu hoàn cảnh là trạng ngữ, bài thành phần chỉ thời gian, nơi chốn của câu có đủ các loại. Khởi ngữ cũng khác các thành phần tình thái, cảm thán, gọi đáp: những thành phần ấy biểu lộ thái độ, còn khởi ngữ gắn với nội dung câu.
Thử sức với năm câu về khởi ngữ
Câu 1: Tìm khởi ngữ trong câu “Món canh chua ấy, mẹ nấu ngon nhất nhà.”
Đáp án: Khởi ngữ là món canh chua ấy. Chủ ngữ là mẹ, vị ngữ là nấu ngon nhất nhà. Có thể thêm “về” vào trước: “Về món canh chua ấy, mẹ nấu ngon nhất nhà.”
Câu 2: Trong câu “Mùa hè năm ngoái, cả nhà em đi Đà Lạt”, cụm “mùa hè năm ngoái” có phải khởi ngữ không?
Đáp án: Không. Cụm này chỉ thời gian xảy ra sự việc, trả lời câu hỏi “khi nào?”, nên là trạng ngữ. Thử thêm “về” vào trước (“Về mùa hè năm ngoái, cả nhà em đi Đà Lạt”) thì câu trở nên lủng củng.
Câu 3: Chuyển phần in đậm thành khởi ngữ: “Cô ấy hát hay lắm.”
Đáp án: “Hát thì cô ấy hát hay lắm.” Động từ hát được đưa lên đầu làm khởi ngữ, có trợ từ “thì” đi kèm, và vẫn được giữ lại ở vị ngữ.
Câu 4: Câu “Còn Lan, Lan vẫn ngồi im” có mấy chữ “Lan” làm chủ ngữ?
Đáp án: Chỉ chữ “Lan” thứ hai là chủ ngữ. Cụm còn Lan đứng đầu là khởi ngữ, có quan hệ từ “còn” đi trước, dùng để chuyển sang nói về một người khác so với câu trước.
Câu 5: Viết hai câu về chủ đề đọc sách, mỗi câu có một khởi ngữ thuộc dạng khác nhau.
Đáp án tham khảo: (1) “Về sách khoa học, em thích nhất loại có nhiều tranh minh họa.” (khởi ngữ có quan hệ từ). (2) “Đọc thì em đọc nhiều, nhưng ghi chép thì em còn lười.” (khởi ngữ lặp lại động từ ở vị ngữ, đi thành cặp đối lập).
Học sinh hay hỏi gì về khởi ngữ
Khởi ngữ là thành phần gì trong câu?
Khởi ngữ là thành phần đứng ngoài nòng cốt chủ ngữ – vị ngữ, có nhiệm vụ nêu đề tài. Nó không phải thành phần chính, cũng không thuộc nhóm thành phần biệt lập.
Tác dụng của khởi ngữ là gì?
Khởi ngữ giúp người nghe biết ngay câu đang bàn về chuyện gì, nhấn mạnh đề tài ấy, và nhiều khi nối câu đang viết với câu đứng trước. Khi làm bài đọc hiểu, nên nêu rõ khởi ngữ đó nhấn mạnh điều gì trong ngữ cảnh.
Một câu có thể có hai khởi ngữ không?
Trong các ví dụ ở sách giáo khoa, mỗi câu đơn chỉ có một khởi ngữ. Trong câu ghép, mỗi vế có thể có khởi ngữ riêng, như “Hiểu thì tôi hiểu, nhưng làm thì chưa làm được.”
Khởi ngữ có luôn có dấu phẩy không?
Không bắt buộc. Khởi ngữ có thể ngăn cách bằng dấu phẩy hoặc bằng trợ từ “thì”; có câu dùng cả hai. Nếu không có cả hai dấu hiệu ấy, hãy dựa vào nghĩa và thử thêm “về”, “đối với”.