Đại từ là lớp từ mà người nói đem ra để xưng hô, để hỏi, hoặc để thay cho một từ ngữ đã nói trước đó mà không phải nhắc lại. Tôi, nó, ai, gì, thế, vậy đều là đại từ. Học sinh gặp từ loại này ở hai chặng: đại từ lớp 5 (Tiếng Việt 5 sách mới) và đại từ lớp 7 (Ngữ văn 7 chương trình cũ). Hai chặng gọi tên các nhóm hơi khác nhau, nhưng nội dung khớp nhau.
| Khái niệm | Từ dùng để xưng hô, để hỏi hoặc để thay thế cho từ ngữ khác trong câu, đoạn |
| Ba nhóm (Tiếng Việt 5) | Đại từ xưng hô · đại từ nghi vấn · đại từ thay thế |
| Hai nhóm (Ngữ văn 7 cũ) | Đại từ để trỏ · đại từ để hỏi |
| Dấu hiệu nhận biết | Không tự gọi tên sự vật; phải nhìn vào ngữ cảnh mới biết nó chỉ ai, chỉ cái gì |

Đại từ được định nghĩa thế nào ở lớp 5 và lớp 7?
Ở tiểu học, phần Ghi nhớ của Tiếng Việt 5 gom đại từ vào ba việc: thay thế (thế, vậy, đó, này), hỏi (ai, gì, nào, sao, bao nhiêu, đâu) và xưng hô (tôi, tớ, chúng tôi, chúng ta, mày). Bộ Kết nối tri thức dạy khái niệm này ở bài Tuổi Ngựa trong Tiếng Việt 5 tập một; bộ Chân trời sáng tạo đặt nó sau văn bản Tết nhớ thương; Cánh diều có riêng một bài Đại từ.
Sách Ngữ văn 7 chương trình cũ diễn đạt rộng hơn một chút: đại từ trỏ vào người, vật, hành động hay đặc điểm đang được nhắc tới trong một hoàn cảnh nói cụ thể; ngoài ra nó còn đảm nhận việc hỏi. Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê) cũng giải theo hướng ấy và ghi thêm tên gọi cũ là đại danh từ.
Điểm chung của mọi định nghĩa: đại từ không mang nghĩa cố định. Chữ nó có thể là con mèo, là cái xe hay là cậu bạn ngồi bàn trên, tùy câu trước đó nói gì.
Xưng hô, hỏi, thay thế: đại từ chia làm mấy nhóm
Bảng dưới đặt hai cách chia cạnh nhau để học sinh lớp nào cũng đối chiếu được.
| Tiếng Việt 5 gọi là | Ngữ văn 7 cũ xếp vào | Dùng để | Ví dụ |
|---|---|---|---|
| Đại từ xưng hô | Đại từ để trỏ người, sự vật | Tự xưng, gọi người nghe, nhắc người thứ ba | tôi, tớ, ta, mình, chúng tôi, chúng ta, mày, cậu, nó, hắn, họ |
| Đại từ thay thế | Đại từ để trỏ hoạt động, tính chất; trỏ số lượng | Thay cho từ ngữ đã nói, tránh lặp | thế, vậy, như thế, đó, này; bấy, bấy nhiêu |
| Đại từ nghi vấn | Đại từ để hỏi | Hỏi về người, vật, nơi chốn, số lượng, cách thức | ai, gì, nào, đâu, sao, thế nào, bao nhiêu, mấy |
Đại từ xưng hô lại chia theo ngôi: người đang nói thuộc ngôi một (tôi, chúng tôi), người đang nghe thuộc ngôi hai (mày, cậu), còn người được nhắc tới thuộc ngôi ba (nó, họ). Phần này được giảng kĩ hơn trong bài các ngôi kể và đại từ chỉ ngôi.
Này, kia, ấy, đó là đại từ hay chỉ từ?
Đây là chỗ sách cũ và sách mới khác nhau rõ nhất. Ngữ văn 6 chương trình cũ tách này, kia, ấy, nọ thành một từ loại riêng gọi là chỉ từ (từ chỉ định), dùng để trỏ vào sự vật và định vị nó trong không gian, thời gian. Tiếng Việt 5 sách mới thì xếp này, đây, đó vào nhóm đại từ thay thế khi chúng đứng một mình thay cho cả một ý (“Đó là thành quả của cả lớp“). Làm bài theo bộ sách nào thì gọi tên theo bộ sách ấy.
Đại từ xưng hô quen nhất là “tôi”, và tôi là gì trong tiếng Việt cho thấy chữ ấy từng mang nghĩa bề tôi trước khi thành lời tự xưng.
Bốn bước nhận ra đại từ trong đoạn văn
- Tìm từ không tự có nghĩa. Đọc riêng chữ vậy hay nó, ta không biết nói về cái gì. Đó là dấu hiệu đầu tiên.
- Lần ngược lên câu trước. Nếu từ ấy thay cho một danh từ, cụm từ hay cả một ý đã xuất hiện, đó là đại từ thay thế hoặc đại từ xưng hô ngôi ba.
- Xem câu có phải câu hỏi không. Trong câu hỏi, ai, gì, đâu, mấy thường là đại từ nghi vấn.
- Thử thay bằng tên gọi thật. Thay nó bằng “con mèo”, thay thế bằng “chăm chỉ” mà câu vẫn đúng nghĩa thì chắc chắn đó là đại từ.
Một cảnh báo nhỏ: ai không phải lúc nào cũng để hỏi. Trong câu “Ai cũng thương bà“, nó mang nghĩa “mọi người”, có sách gọi là cách dùng phiếm chỉ.
Ông, bà, anh, chị: khi danh từ mượn việc của đại từ
Tiếng Việt xưng hô bằng danh từ chỉ quan hệ họ hàng nhiều hơn bằng đại từ. Con nói với mẹ “Con đi học đây”, học trò thưa “Em chào cô”. Các từ con, em, cô lúc ấy làm việc xưng hô, nhưng gốc của chúng vẫn là danh từ. Sách Tiếng Việt 5 ghi rõ: rất nhiều danh từ cũng được đem ra xưng hô, chẳng hạn thầy, bạn, cháu, ông, bà, bố, mẹ.
| Tiêu chí | Đại từ xưng hô | Danh từ dùng để xưng hô |
|---|---|---|
| Ví dụ | tôi, tớ, mày, nó, họ, chúng ta | ông, bà, bố, mẹ, anh, chị, em, cô, thầy, bạn |
| Nghĩa riêng khi đứng ngoài câu | Không gọi tên ai cụ thể | Vẫn gọi tên một quan hệ: “chị” là người con gái sinh trước |
| Kết hợp với số từ | Không nói “hai tôi”, “ba nó” | Nói được “hai chị”, “ba ông cháu” |
| Sắc thái | Thường trung tính hoặc suồng sã (mày, tao) | Thể hiện thứ bậc, tình cảm, lễ phép |
Vì vậy khi đề bài hỏi “tìm đại từ”, đừng gạch chân ông hay cô. Nếu đề hỏi “tìm từ dùng để xưng hô” thì phải lấy cả hai nhóm.
Đại từ trong câu thơ, câu chuyện của sách giáo khoa
Bài thơ Nôm Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến mở và đóng bằng hai dòng có đại từ:
Đã bấy lâu nay, bác tới nhà,
…
Bác đến chơi đây, ta với ta!
Bấy trong “bấy lâu” là đại từ trỏ thời lượng, gợi khoảng thời gian dài hai người bạn chưa gặp. Bác là danh từ mượn để gọi bạn, vừa thân vừa trọng. Đáng chú ý nhất là ta với ta: cùng một đại từ nhưng một chữ chỉ chủ nhà, một chữ chỉ khách, và cả cụm gộp hai người thành một. Lễ nghi tiếp khách thiếu hết, chỉ còn tấm lòng. Phần phân tích kĩ cụm từ này có trong bài thơ Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến.
Câu chuyện ngắn Hạt thóc trong Tiếng Việt 5 Kết nối tri thức cho thấy đại từ xưng hô thể hiện thái độ. Thóc kiêu căng tự xưng ta, gọi ngô, khoai, sắn là “các bạn” như bề trên nói với bề dưới. Ngô đáp lại bằng cặp tớ – cậu ngang hàng, nhẹ nhàng mà thẳng thắn. Chỉ đổi cách xưng hô, tính cách hai nhân vật đã hiện ra.
Ở bộ Chân trời sáng tạo, đoạn văn của Đặng Vương Hưng trong bài Tết nhớ thương lớp 5 dùng tôi cho người kể, nó cho người bạn tên Bông, rồi gộp lại thành chúng tôi khi hai đứa cùng ra Gò Mộng. Ba đại từ đủ để người đọc theo dõi ai làm gì mà không cần nhắc tên lần nào nữa.
Luyện nhận diện đại từ qua bốn câu
Câu 1: Tìm đại từ và cho biết dùng để làm gì: “Lan học rất chăm. Hùng cũng vậy. Cậu ấy còn hay giảng bài cho tớ.”
Đáp án: vậy là đại từ thay thế, thay cho “học rất chăm”. Tớ là đại từ xưng hô, chỉ người đang nói. Cậu ấy chỉ Hùng: cậu gốc là danh từ (em trai của mẹ) được mượn để xưng hô, ấy là từ trỏ; có sách gộp cả cụm “cậu ấy” làm từ xưng hô ngôi thứ ba.
Câu 2: Gạch chân đại từ nghi vấn: “Cậu mua mấy quyển vở? Mua ở đâu thế?”
Đáp án: mấy (hỏi số lượng) và đâu (hỏi nơi chốn). Chữ thế cuối câu thứ hai ở đây là trợ từ tạo giọng hỏi thân mật, không thay cho từ ngữ nào nên không tính là đại từ thay thế.
Câu 3: Trong đoạn hội thoại sau, từ nào là đại từ, từ nào là danh từ dùng để xưng hô? “Bà ơi, cháu về rồi! – Cháu bà ngoan quá. Bà để phần cháu bát chè đấy.”
Đáp án: bà và cháu đều là danh từ chỉ quan hệ họ hàng được dùng để xưng hô. Đoạn này không có đại từ xưng hô nào, đúng kiểu nói chuyện trong gia đình người Việt.
Câu 4: Sửa đoạn văn bị lặp từ bằng cách dùng đại từ: “Con mèo nhà em lông trắng. Con mèo nhà em rất thích nằm sưởi nắng. Mỗi lần em gọi, con mèo nhà em chạy tới ngay.”
Đáp án tham khảo: “Con mèo nhà em lông trắng. Nó rất thích nằm sưởi nắng. Mỗi lần em gọi, nó chạy tới ngay.” Đại từ nó thay cho cụm “con mèo nhà em”, đoạn văn gọn mà vẫn rõ nghĩa.
Ai muốn luyện thêm dạng bài sát đề kiểm tra có thể làm phần đại từ trong bài ôn cuối kì một lớp 5 bộ Chân trời. Một thành phần câu khác hay được học cùng giai đoạn là bộ phận chỉ hoàn cảnh trong câu.
Thắc mắc thường gặp khi học đại từ
Đại từ là gì lớp 5, nói ngắn để dễ thuộc?
Nhớ ba chữ: xưng hô, hỏi, thay thế. Đại từ làm một trong ba việc đó, giúp câu khỏi lặp từ. Ba nhóm tương ứng là đại từ xưng hô, đại từ nghi vấn và đại từ thay thế.
Đại từ lớp 7 chia thành mấy loại?
Sách Ngữ văn 7 cũ chia hai loại lớn. Đại từ để trỏ gồm trỏ người, sự vật (tôi, nó, họ), trỏ số lượng (bấy, bấy nhiêu), trỏ hoạt động, tính chất (vậy, thế). Đại từ để hỏi cũng hỏi về ba phương diện ấy (ai, gì; bao nhiêu, mấy; sao, thế nào).
Đại từ xưng hô là gì, khác đại từ nhân xưng không?
Hai tên gọi cùng chỉ một nhóm: những từ người nói dùng để tự xưng, gọi người nghe hoặc nhắc người khác, như tôi, bạn, nó, họ. Sách tiểu học dùng “đại từ xưng hô”, nhiều tài liệu ngữ pháp gọi là “đại từ nhân xưng”.
Có ví dụ đại từ thay thế nào dễ hiểu không?
“Mẹ em thích hoa sen. Em cũng vậy.” Từ vậy thay cho cả cụm “thích hoa sen”. Tương tự: “Cây bàng này cao và tỏa bóng rộng. Cây bàng ở cổng trường cũng thế.“