Tôi là đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất số ít: người nói dùng nó để tự xưng, nhất là khi nói với người ngang hàng hoặc khi không cần tỏ thái độ thân sơ. Nhưng “tôi” trong tiếng Việt không chỉ có thế. Từ điển còn ghi một danh từ cũ chỉ bề tôi, người hầu, và một động từ chỉ việc tôi thép, tôi vôi. Ba chữ cùng âm, khác nghĩa, nên đề hỏi “tôi là từ loại gì” luôn phải nhìn vào câu.
| Khái niệm | Đại từ nhân xưng (đại từ xưng hô) ngôi thứ nhất, số ít |
| Nghĩa khi tự xưng | Chỉ chính người đang nói; sắc thái trung tính, lịch sự vừa phải |
| Số nhiều | Chúng tôi (không gồm người nghe), khác chúng ta (gồm người nghe) |
| Dấu hiệu nhận biết | Thay được bằng tớ, mình, em… mà câu vẫn chỉ người nói |
| Từ đồng âm | tôi (bề tôi, từ cũ) · tôi (tôi thép, tôi vôi) |

Tôi là đại từ gì?
Sách Ngữ văn và sách Tiếng Việt tiểu học xếp tôi vào nhóm đại từ dùng để xưng hô, có sách gọi là đại từ nhân xưng, có sách gọi là đại từ xưng hô. Tên gọi khác nhau nhưng chức năng giống nhau: thay cho tên của người đang nói, để người nói khỏi phải tự gọi tên mình. Trong ba ngôi giao tiếp, tôi thuộc ngôi thứ nhất; ngôi thứ hai là người nghe (bạn, cậu, anh…), ngôi thứ ba là người được nhắc tới (nó, họ, anh ấy…). Bảng đầy đủ các ngôi có ở bài bảng ngôi và số của đại từ nhân xưng.
Điểm riêng của tôi là sự trung tính. Tiếng Việt có rất nhiều cách tự xưng, nhưng phần lớn kèm theo một quan hệ: con với bố mẹ, em với anh chị, cháu với ông bà, tao với bạn rất thân hoặc khi gay gắt. Tôi thì gần như không kèm quan hệ nào. Vì thế nó là lựa chọn an toàn trong cuộc họp, trên báo, trong đơn từ, trong lời giới thiệu với người lạ. Nó cũng là đại từ mà người kể chuyện hay dùng nhất.
Từ điển cũng ghi thêm một nghĩa cũ của danh từ tôi là người đi ở, người hầu hạ cho chủ, hoặc bề tôi của vua. Nhiều người liên hệ nghĩa cũ ấy với cách tự xưng: xưng tôi vốn là tự đặt mình ở thế khiêm nhường, giống tớ trong tôi tớ.
Ba chữ tôi cùng âm khác nghĩa
| Từ loại | Nghĩa | Ví dụ |
|---|---|---|
| Đại từ | Người nói tự xưng | Tôi sẽ gửi bài trước tối nay. |
| Danh từ (từ cũ) | Bề tôi của vua; người làm đầy tớ cho chủ | đạo vua tôi; phận làm tôi |
| Động từ | Nung kim loại đến nhiệt độ nhất định rồi làm nguội nhanh cho cứng; còn nói là trui | tôi lưỡi dao, thép đã tôi |
| Động từ | Cho vôi sống vào nước để vôi tan ra | hố tôi vôi |
Nghĩa thứ ba quen với học sinh qua nhan đề tiểu thuyết Thép đã tôi thế đấy! của N. Ốt-xtrốp-xki. Ở đó “tôi” là động từ: thép được rèn trong lửa rồi nhúng lạnh mới cứng, cũng như con người được thử thách mới vững vàng.
Khi nào chữ tôi là đại từ?
- Thử thay bằng một tiếng tự xưng khác. Trong “Tôi đi học”, thay thành “Tớ đi học”, “Em đi học” mà câu vẫn chỉ người nói thì tôi là đại từ. Trong “tôi vôi”, không thể thay “tớ vôi”, vậy đó là động từ.
- Xem vị trí trong câu. Đại từ tôi thường làm chủ ngữ (Tôi đọc), bổ ngữ (Mẹ gọi tôi) hoặc định ngữ chỉ sở hữu (quê hương tôi). Động từ tôi đứng trước đối tượng bị tác động: tôi thép, tôi dao.
- Xem văn bản thuộc thời nào. Gặp “vua tôi”, “làm tôi”, “bề tôi” trong văn cổ thì đó là danh từ chỉ người dưới quyền vua, không phải người nói.
Một dấu hiệu phụ: đại từ tôi có dạng số nhiều là chúng tôi, còn danh từ và động từ thì không.
Tôi, chúng tôi, tớ, mình, ta khác nhau thế nào?
| Từ | Ngôi, số | Sắc thái | Dùng khi |
|---|---|---|---|
| Tôi | Thứ nhất, ít | Trung tính | Nói với người ngang hàng, người lạ, nơi trang trọng |
| Chúng tôi | Thứ nhất, nhiều | Trung tính | Nhóm người nói, không gồm người nghe |
| Chúng ta | Thứ nhất, nhiều | Gần gũi | Gồm cả người nói và người nghe |
| Tớ | Thứ nhất, ít | Thân mật | Bạn bè cùng lứa, đi cặp với cậu |
| Mình | Thứ nhất, ít (có khi nhiều) | Thân mật, mềm | Bạn bè, vợ chồng, viết mạng xã hội |
| Ta | Thứ nhất, ít hoặc nhiều | Tự tin, có khi kiêu | Văn chương, độc thoại, lời người bề trên trong truyện cổ |
Lỗi hay gặp nhất là lẫn chúng tôi với chúng ta. Đứng trước lớp mà nói “chúng tôi sẽ cùng ôn bài” là đã vô tình gạt các bạn nghe ra ngoài; nên nói “chúng ta”.
Đừng nhầm đại từ tôi với cụm cái tôi. Khi thêm chữ “cái”, tôi trở thành danh từ chỉ ý thức về bản thân, như trong “cái tôi cá nhân”, “cái tôi trữ tình”; nghĩa này có ở bài chuyện cái tôi cao và cái tôi trữ tình.
Chữ tôi trong những trang văn quen thuộc
Dế Mèn và cậu bé ngày tựu trường
Trong Bài học đường đời đầu tiên, Dế Mèn tự xưng tôi từ câu đầu đến câu cuối. Một con dế nói “tôi” khiến người đọc nhập ngay vào thế giới của nó, nghe nó khoe sức vóc, rồi cùng nó hối hận. Truyện Tôi đi học của Thanh Tịnh còn đưa chữ tôi lên nhan đề: cậu bé xưng tôi kể lại buổi sáng đầu tiên đến trường, mọi cảm giác bỡ ngỡ đều là của chính người kể. Câu hỏi đọc hiểu về chi tiết này có ở bài soạn văn bản Tôi đi học của Thanh Tịnh.
Ở cả hai truyện, chữ tôi là dấu hiệu của lối kể bằng ngôi thứ nhất: người kể đứng trong câu chuyện, chỉ biết điều mình thấy và mình nghĩ.
Người kể không phải lúc nào cũng là nhân vật chính
Trong Lão Hạc của Nam Cao, người xưng tôi là ông giáo hàng xóm. Ông chứng kiến, kể lại, rồi suy ngẫm về lão Hạc. Chữ tôi ở đây cho người đọc một khoảng cách vừa đủ: đứng bên cạnh để thấy, chứ không ở trong đầu nhân vật chính.
Hai chữ tôi trong một câu Truyện Kiều
Tin tôi nên quá nghe lời,
Đem thân bách chiến làm tôi triều đình.
Đây là lời Kiều nói với Hồ Tôn Hiến sau cái chết của Từ Hải: vì tin lời nàng mà Từ Hải ra hàng. Chỉ trong hai dòng, chữ tôi xuất hiện hai lần với hai nghĩa. “Tin tôi” là Kiều tự xưng, tức đại từ. “Làm tôi triều đình” là làm bề tôi cho triều đình, tức danh từ cũ. Đây là ví dụ rất gọn để phân biệt hai chữ tôi đồng âm.
Luyện nhận biết chữ tôi qua bốn câu
Câu 1: Chữ “tôi” nào là đại từ: (a) Người thợ rèn đang tôi lưỡi cuốc. (b) Tôi rất thích giờ đọc sách. (c) Ông quan một lòng giữ đạo làm tôi.
Đáp án: Chỉ câu (b). Ở (a), “tôi” là động từ, chỉ việc nung rồi làm nguội kim loại. Ở (c), “tôi” là danh từ cũ, chỉ bề tôi của vua.
Câu 2: Điền “chúng tôi” hoặc “chúng ta” vào chỗ trống: Tổ trưởng báo cáo với cô giáo: “Thưa cô, … đã quét xong lớp.” Rồi quay sang các bạn: “Giờ … cùng tưới cây nhé.”
Đáp án: Chỗ thứ nhất điền chúng tôi (cô giáo không nằm trong nhóm quét lớp). Chỗ thứ hai điền chúng ta (người nói rủ cả những người đang nghe).
Câu 3: Viết lại câu “Tôi cho cậu mượn bút” cho hợp với ba tình huống: nói với bạn thân, nói với mẹ, nói với cô giáo.
Đáp án tham khảo: Với bạn thân: “Tớ cho cậu mượn bút.” Với mẹ: “Con cho mẹ mượn bút.” Với cô giáo: “Cô dùng tạm bút của em ạ.” Đại từ tôi được thay bằng từ xưng hô hợp quan hệ; nói “tôi” với mẹ hay với cô sẽ nghe xa cách, thiếu lễ phép.
Câu 4: Trong truyện Tôi đi học, người kể xưng “tôi” giúp gì cho câu chuyện?
Đáp án: Người kể xưng tôi là nhân vật trong truyện, nên những cảm xúc hồi hộp, ngỡ ngàng được kể từ bên trong, chân thật và gần gũi. Người đọc như sống lại buổi tựu trường của chính mình.
Xưng tôi sao cho đúng chỗ
Tôi là ngôi thứ mấy?
Tôi là ngôi thứ nhất số ít, chỉ người đang nói. Dạng số nhiều là chúng tôi.
Tôi là đại từ hay danh từ?
Khi tự xưng, tôi là đại từ. Trong các cụm cũ như “vua tôi”, “bề tôi”, “làm tôi”, nó là danh từ; còn trong “tôi thép”, “tôi vôi” thì là động từ.
Tôi tiếng Anh là gì?
Đại từ tôi tương ứng với I (làm chủ ngữ) và me (làm tân ngữ). Động từ tôi thép thường dịch là to harden hoặc to quench.
Viết văn nghị luận có nên xưng tôi không?
Được, khi đề yêu cầu nêu ý kiến riêng hoặc kể trải nghiệm. Với đoạn lập luận chung, nhiều thầy cô khuyên xưng “chúng ta” để kéo người đọc cùng suy nghĩ, hoặc viết câu không chủ ngữ cho khách quan.