Cố hương là truyện ngắn nổi tiếng của Lỗ Tấn, từng là bài học trong sách Ngữ văn 9 tập một chương trình cũ và nay được dùng ở phần Tự đánh giá Bài 6 sách Ngữ văn 8 tập hai Cánh diều. Bài này gom lại thông tin về tác giả, xuất xứ, ngôi kể, bố cục, ý nghĩa nhan đề, giá trị nội dung và nghệ thuật, kèm sơ đồ tư duy và hai bản tóm tắt.
Nội dung văn bản Cố hương
Bản dịch tiếng Việt trong sách giáo khoa còn được bảo hộ bản quyền, nên dưới đây chỉ lược thuật nội dung theo ba phần của truyện.

- Trên đường về quê: giữa mùa đông, “tôi” vượt hơn hai nghìn dặm trở về quê cũ sau hơn hai mươi năm xa cách, để bán ngôi nhà của dòng họ và đưa mẹ cùng cháu Hoàng lên nơi mình làm ăn. Trước mắt là những thôn xóm tiêu điều dưới bầu trời u ám, khiến lòng “tôi” se lại.
- Những ngày ở quê: mẹ nhắc đến Nhuận Thổ, “tôi” nhớ lại cậu bạn thơ ấu khỏe mạnh, đeo vòng bạc, cầm đinh ba đâm con tra giữa ruộng dưa dưới vầng trăng. Thím Hai Dương, cô hàng đậu phụ xinh đẹp ngày trước, nay chua ngoa, tham lam. Rồi Nhuận Thổ đến: già nua, nghèo khổ, rụt rè gọi “tôi” bằng ông. Anh xin lấy chiếc lư hương và đôi chân đèn. Sau đó thím Hai Dương bới được bát đĩa giấu trong đống tro, đổ cho Nhuận Thổ.
- Trên đường rời quê: ngồi trên thuyền, “tôi” buồn vì bức tường ngăn cách mình với Nhuận Thổ, mong cho cháu Hoàng và Thủy Sinh một cuộc đời mới, rồi nghĩ về hi vọng và kết luận bằng hình ảnh con đường do người ta đi mãi mà thành.
Thông tin tác giả Lỗ Tấn
Lỗ Tấn (25/9/1881 – 19/10/1936) tên khai sinh là Chu Chương Thọ, năm 1898 đổi thành Chu Thụ Nhân; bút danh Lỗ Tấn lấy họ của mẹ. Ông quê ở Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang, sinh ra trong một nhà quan lại đã sa sút từ khi ông còn nhỏ.
Lỗ Tấn học nhiều nghề: hàng hải, khai mỏ, rồi sang Nhật học y. Năm 1906, nhận ra rằng việc cần làm trước tiên là thay đổi tinh thần của người dân, ông bỏ y khoa để làm văn nghệ. Năm 1918, truyện Nhật ký người điên ra đời, mở đầu văn học hiện đại Trung Quốc.
Tác phẩm chính: truyện vừa A Q chính truyện (1921), hai tập truyện ngắn Gào thét (1923), Bàng hoàng (1926), tập Chuyện cũ viết lại (1936) và nhiều tập tạp văn. Truyện của ông thường hướng tới việc phơi bày những căn bệnh tinh thần của người dân Trung Quốc để thức tỉnh họ. Xem thêm tiểu sử Lỗ Tấn và phong cách sáng tác của Lỗ Tấn.
Thông tin tác phẩm Cố hương
Cố hương in ở đâu?
Truyện ngắn được in trong tập Gào thét (1923), tập truyện đầu tay của Lỗ Tấn gồm 14 truyện, trong đó còn có Nhật ký người điên, Thuốc, A Q chính truyện.
Hoàn cảnh sáng tác Cố hương
Truyện ra đời trong những năm Trung Quốc rơi vào cảnh nửa phong kiến nửa thuộc địa: nông thôn kiệt quệ vì thiên tai, sưu thuế, nội chiến, quan lại và thổ hào áp bức. Lỗ Tấn mượn chuyến về quê của một trí thức để ghi lại sự sa sút ấy và đặt câu hỏi về con đường cho tương lai.
Thể loại, phương thức biểu đạt, ngôi kể
- Thể loại: truyện ngắn.
- Phương thức biểu đạt: tự sự kết hợp miêu tả, biểu cảm và nghị luận.
- Ngôi kể: ngôi thứ nhất, người kể xưng “tôi” (tên Tấn); câu chuyện vừa có không khí hồi kí vừa giàu suy tư.
- Nhân vật chính: “tôi” (nhân vật trung tâm) và Nhuận Thổ; ngoài ra có mẹ “tôi”, thím Hai Dương, cháu Hoàng, Thủy Sinh.
Bố cục Cố hương có mấy phần?
Căn cứ vào trình tự chuyến về quê, truyện chia 3 phần:
- Phần 1 (từ đầu đến “đang làm ăn sinh sống”): “tôi” trên đường về quê.
- Phần 2 (tiếp theo đến “sạch trơn như quét”): những ngày “tôi” ở quê.
- Phần 3 (còn lại): “tôi” trên đường rời quê.
Ý nghĩa nhan đề Cố hương
- “Cố hương” nghĩa là quê cũ, quê nhà; nhan đề trước hết gọi tên nơi câu chuyện diễn ra và chuyến trở về của nhân vật.
- Nhan đề chứa sự đối lập giữa quê hương trong kí ức (đẹp, ấm áp, tình bạn trong sáng) và quê hương hiện tại (tiêu điều, con người tha hóa, xa cách), từ đó gợi nỗi buồn và sự day dứt.
- Qua hình ảnh một làng quê, tác giả nói về cả đất nước Trung Hoa đương thời, cũng như khát vọng xây dựng một “cố hương” mới cho thế hệ sau.
Giá trị nội dung
- Phản ánh sự sa sút của nông thôn Trung Hoa những năm đầu thế kỉ trước về đời sống vật chất lẫn tinh thần, qua sự thay đổi của Nhuận Thổ, thím Hai Dương và cảnh vật.
- Lên án xã hội nửa phong kiến nửa thuộc địa đã đẩy người lao động vào cảnh cùng cực và tạo nên bức tường ngăn cách giữa người với người.
- Thể hiện tình yêu quê hương, niềm thương xót người nông dân và khát vọng về một cuộc đời mới, gửi gắm vào thế hệ trẻ.
Giá trị nghệ thuật
- Kết hợp nhuần nhuyễn tự sự với miêu tả, biểu cảm và nghị luận; câu kết mang tính triết lí sâu sắc.
- Thủ pháp đối chiếu, tương phản giữa quá khứ và hiện tại, giữa kí ức và thực tế.
- Kết cấu đầu cuối tương ứng: mở đầu bằng chuyến đi về, khép lại bằng chuyến đi xa, hai cảnh cùng trên thuyền nhưng tâm trạng khác nhau.
- Nhiều hình ảnh có sức gợi lớn: vầng trăng trên ruộng dưa, bức tường vô hình, con đường.
Sơ đồ tư duy Cố hương
Sơ đồ dưới đây tóm lược sáu nhóm kiến thức chính để ôn nhanh.

Tóm tắt Cố hương
Mẫu 1 – Tóm tắt Cố hương ngắn nhất
Sau hơn hai mươi năm xa quê, nhân vật “tôi” trở về bán nhà, đón mẹ đi nơi khác. Quê hương tiêu điều, người bạn thơ ấu Nhuận Thổ đã thành một nông dân khốn khổ, cung kính gọi “tôi” là ông. Rời quê, “tôi” buồn vì sự ngăn cách ấy nhưng vẫn hi vọng thế hệ sau sẽ có một cuộc đời mới, như con đường được tạo nên nhờ người ta đi mãi.
Mẫu 2 – Tóm tắt Cố hương đầy đủ
Giữa mùa đông giá rét, “tôi” về thăm quê sau hơn hai mươi năm, lần này là để bán nhà và đưa mẹ cùng cháu Hoàng lên nơi mình sinh sống. Làng quê hiện ra hiu hắt, khác xa trong kí ức. Mẹ nhắc Nhuận Thổ sắp đến chơi, “tôi” nhớ lại cậu bé khỏe mạnh, hiểu biết, người đã kể cho mình nghe biết bao chuyện lạ về biển, về chim, về chuyện canh dưa. Những ngày sau, “tôi” gặp lại thím Hai Dương, cô hàng đậu phụ xinh đẹp năm xưa, nay gầy guộc, chua ngoa, nhân lúc dọn nhà mà lấy đồ. Rồi Nhuận Thổ đến: già trước tuổi, mặt nhăn nheo, đôi tay nứt nẻ, rụt rè gọi “tôi” là ông và bảo con trai Thủy Sinh vái chào. Anh kể chuyện nhà đông con, mất mùa, thuế nặng, rồi chọn xin chiếc lư hương và đôi chân đèn. Ngày lên đường, thím Hai Dương bảo đã tìm được bát đĩa giấu trong đống tro, đổ cho Nhuận Thổ. Trên thuyền rời quê, “tôi” thấy mình và Nhuận Thổ đã bị một bức tường vô hình chia cách, mong cháu Hoàng và Thủy Sinh sẽ có một cuộc đời mới, và nghĩ rằng hi vọng cũng như con đường, có nhiều người đi thì sẽ thành đường.
Lời kết
Nắm chắc xuất xứ, ngôi kể, bố cục ba phần, thủ pháp đối chiếu và ý nghĩa câu kết về con đường là đủ để các em làm tốt các câu hỏi đọc hiểu về Cố hương ở cả sách Cánh diều lẫn sách cũ.
Xem thêm: