Nghệ thuật là hoạt động sáng tạo của con người dùng hình tượng cụ thể, gợi cảm (câu chữ, màu sắc, âm thanh, đường nét, động tác) để phản ánh đời sống và gửi gắm tư tưởng, tình cảm, như văn chương, âm nhạc, hội họa, điện ảnh. Khi học văn, chữ này còn có nghĩa hẹp hơn: “nghệ thuật” của một bài thơ, bài văn là cách tác giả viết ra nó.
| Khái niệm | Hình thái ý thức xã hội đặc biệt, phản ánh hiện thực bằng hình tượng |
| Nghĩa khác | Cách làm khéo, giàu sáng tạo (nghệ thuật kinh doanh); có tính thẩm mĩ cao (bày biện rất nghệ thuật) |
| Gốc từ | Hán Việt 藝術: nghệ (tài nghề) + thuật (phép, cách làm) |
| Dấu hiệu nhận biết | Có hình tượng, có cảm xúc, mang dấu ấn riêng của người sáng tạo |
| Trong bài làm văn | “Giá trị nghệ thuật” là phần nói về hình thức: thể loại, ngôn ngữ, biện pháp tu từ, cách kể, cách dựng nhân vật |

Nghệ thuật theo từ điển và theo lí luận văn học
Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê) xếp nghệ thuật là danh từ với ba nét nghĩa. Nét thứ nhất là nghĩa lớn nhất: một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, dùng hình tượng sinh động, cụ thể và gợi cảm để phản ánh hiện thực, truyền đạt tư tưởng, tình cảm. Văn học, điêu khắc, trượt băng nghệ thuật đều thuộc nét nghĩa này. Nét thứ hai là phương pháp, cách làm giàu sáng tạo, đem lại hiệu quả cao, như nghệ thuật dùng binh, nghệ thuật giao tiếp. Nét thứ ba nghiêng về khẩu ngữ: khen một thứ gì đó đẹp, khéo, “trông rất nghệ thuật”.
Wiktionary giảng gọn: nghệ thuật là sự sáng tạo ra những sản phẩm chứa đựng giá trị tư tưởng và thẩm mĩ. Hai cách giảng gặp nhau ở hai chữ: sáng tạo và cái đẹp.
Chữ Hán 藝術 cũng nói đúng điều ấy. Nghệ (藝) là tài nghề, tay nghề; thuật (術) là phép làm, cách thức. Thuở đầu, nghệ thuật gần với “tay nghề giỏi”; dần dần nghĩa nghiêng hẳn về sự sáng tạo cái đẹp. Dấu vết nghĩa cũ vẫn còn trong những cụm như nghệ thuật nấu ăn, nghệ thuật cắm hoa.
Còn nghệ thuật sinh ra để làm gì thì mỗi thời, mỗi nhà văn có câu trả lời riêng. Câu được học sinh nhớ nhiều là lời Nam Cao trong truyện ngắn Trăng sáng: “nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối”. Ý ông là nghệ thuật phải nhìn thẳng vào nỗi khổ của con người chứ không tô hồng cuộc sống; bàn kĩ về câu này có ở bài ánh trăng lừa dối trong quan niệm của Nam Cao.
Những nét chung của mọi tác phẩm nghệ thuật
Một bức tranh, một bản nhạc, một bài thơ trông rất khác nhau, nhưng đều có chung mấy nét. Nhờ chúng mà ta phân biệt được tác phẩm nghệ thuật với một bản tin hay một bài báo cáo khoa học.
- Có hình tượng. Nghệ thuật không giảng giải bằng khái niệm mà dựng nên hình ảnh cụ thể: một nhân vật, một cảnh thu, một giai điệu. Người xem nghĩ ra điều cần nói qua hình ảnh ấy.
- Có cảm xúc. Tác phẩm chạm vào cảm xúc người đọc, người nghe: vui, buồn, thương, giận.
- Mang dấu ấn riêng. Cùng vẽ một dòng sông, hai họa sĩ cho ra hai bức khác hẳn nhau. Cá tính sáng tạo là thứ làm cho tác phẩm không thể thay thế.
- Có giá trị thẩm mĩ. Tác phẩm hướng tới cái đẹp, hoặc giúp người ta nhận ra cái đẹp, cái xấu trong đời.
Chỉ có hình ảnh mà thiếu cảm xúc, hay chỉ khéo tay mà không có gì muốn nói, thì sản phẩm làm ra thường dừng ở mức đồ thủ công đẹp mắt.
Bảy loại hình nghệ thuật và cách chia khác
Người ta hay chia nghệ thuật theo chất liệu mà nó dùng. Cách đếm phổ biến ở Việt Nam là bảy loại: kiến trúc, điêu khắc, hội họa, âm nhạc, văn học, sân khấu (có khi tính cả múa) và điện ảnh. Điện ảnh ra đời muộn nhất nên được gọi là “nghệ thuật thứ bảy”. Cách đếm này không thống nhất: có tài liệu tách múa riêng, có tài liệu thêm nhiếp ảnh, truyện tranh, trò chơi điện tử.
| Cách chia | Các nhóm |
|---|---|
| Theo giác quan tiếp nhận | Nghệ thuật thị giác (hội họa, điêu khắc), thính giác (âm nhạc), tổng hợp (sân khấu, điện ảnh) |
| Theo chất liệu | Ngôn từ (văn học), màu và đường nét (hội họa), âm thanh (âm nhạc), hình khối (điêu khắc, kiến trúc), cơ thể (múa) |
| Theo nguồn gốc | Nghệ thuật dân gian (chèo, tuồng, ca trù, tranh Đông Hồ) và nghệ thuật chuyên nghiệp |
Văn học có chỗ đặc biệt là chất liệu ngôn từ. Nó không vẽ ra màu sắc hay phát ra âm thanh, nhưng gợi được cả hai trong trí tưởng tượng của người đọc. Ở Ngữ văn 10, văn bản của Nguyễn Văn Huyên nói về nhiều loại hình nghệ thuật của người Việt, tham khảo ở bài soạn Nghệ thuật truyền thống của người Việt.
Nói về nghệ thuật của một bài thơ, bài văn
Đề bài hay hỏi “nêu đặc sắc nghệ thuật”, “giá trị nghệ thuật”. Lúc này nghệ thuật là cách viết: tác giả chọn thể loại nào, dùng từ ngữ, hình ảnh ra sao, kể theo ngôi nào, dựng nhân vật thế nào. Ba ví dụ quen thuộc:
Thu điếu của Nguyễn Khuyến
Bài thất ngôn bát cú gieo vần “eo” (trong veo, tẻo teo, vèo, teo, bèo), vần hẹp làm không gian như thu nhỏ lại, lặng đi. Thêm những từ láy như lạnh lẽo, lơ lửng và lối lấy động tả tĩnh ở câu kết. Nói nghệ thuật của bài là nói những chỗ ấy, kèm tác dụng của chúng. Phân tích chi tiết có ở bài soạn bài Thu điếu theo sách mới.
Lão Hạc của Nam Cao
Truyện được kể qua lời nhân vật “tôi” là ông giáo, người vừa chứng kiến vừa suy ngẫm, nên câu chuyện vừa chân thực vừa đầy cảm xúc. Nam Cao còn đi sâu vào diễn biến tâm lí: lão Hạc khóc khi bán cậu Vàng, rồi cái chết dữ dội của lão. Muốn luyện cách viết phần này, đọc thêm các bài phân tích nhân vật lão Hạc.
Biện pháp tu từ là một phần của nghệ thuật
So sánh, nhân hóa, ẩn dụ, điệp ngữ… là những công cụ người viết hay dùng nhất. Khi trình bày nghệ thuật của một đoạn thơ, nên gọi tên biện pháp, chỉ ra từ ngữ cụ thể, rồi nói tác dụng. Bảng các phép tu từ thường gặp có ở bài biện pháp tu từ và cách nêu tác dụng.
Luyện tập: bốn câu hỏi về nghệ thuật
Câu 1: Trong các câu sau, từ “nghệ thuật” mang nét nghĩa nào? (a) Điện ảnh là một ngành nghệ thuật trẻ. (b) Cô ấy rất có nghệ thuật thuyết phục người khác. (c) Đĩa trái cây được bày rất nghệ thuật.
Đáp án: (a) Nghĩa thứ nhất: một hình thái sáng tạo cái đẹp bằng hình tượng. (b) Nghĩa thứ hai: cách làm khéo, đem lại hiệu quả. (c) Nghĩa thứ ba, khẩu ngữ: đẹp, có tính thẩm mĩ.
Câu 2: Xếp các loại hình sau theo chất liệu: chèo, tranh sơn mài, tiểu thuyết, nhạc giao hưởng, tượng đồng.
Đáp án: Ngôn từ: tiểu thuyết. Màu sắc, đường nét: tranh sơn mài. Âm thanh: nhạc giao hưởng. Hình khối: tượng đồng. Chèo là nghệ thuật sân khấu tổng hợp, dùng cả lời, nhạc, múa và diễn xuất.
Câu 3: Một bạn viết: “Nghệ thuật của bài thơ là ca ngợi tình yêu quê hương.” Câu này sai ở đâu?
Đáp án: “Ca ngợi tình yêu quê hương” là nội dung, không phải nghệ thuật. Phần nghệ thuật phải nói về cách viết, ví dụ thể thơ, hình ảnh, biện pháp tu từ, giọng điệu. Câu đúng có thể là: “Bằng thể thơ lục bát và những hình ảnh mộc mạc, bài thơ bày tỏ tình yêu quê hương.”
Câu 4: Vì sao bản tin thời tiết không được xem là tác phẩm nghệ thuật, còn một bài thơ tả mưa thì có?
Đáp án: Bản tin chỉ cung cấp thông tin chính xác, không cần hình tượng và không nhằm gợi cảm xúc. Bài thơ tả mưa dựng nên hình ảnh, gợi cảm xúc và mang cách nhìn riêng của tác giả, tức có đủ các nét chung của tác phẩm nghệ thuật.
Giải đáp thắc mắc về chữ nghệ thuật
Nghệ thuật nghĩa là gì nói ngắn gọn?
Là sự sáng tạo ra cái đẹp bằng hình tượng để bày tỏ suy nghĩ, tình cảm của con người. Ngoài ra, nó còn chỉ cách làm khéo léo trong một việc nào đó.
Giá trị nghệ thuật là gì?
Là những điểm hay về cách viết của một tác phẩm: thể loại, ngôn ngữ, hình ảnh, biện pháp tu từ, kết cấu, cách kể chuyện. Nó đi đôi với giá trị nội dung, tức điều tác phẩm muốn nói.
Nghệ thuật thứ bảy là gì?
Là cách gọi điện ảnh, vì trong cách đếm bảy loại hình nghệ thuật thì điện ảnh đứng thứ bảy, ra đời muộn nhất.
Nghệ thuật tiếng Anh là gì?
Là art; số nhiều the arts chỉ chung các ngành nghệ thuật. “Nghệ thuật thị giác” là visual arts, “nghệ thuật biểu diễn” là performing arts.