Mỉa mai là cách nói ngược với điều mình thật sự nghĩ để chê, để châm chọc một người hay một việc: bề ngoài nghe như khen, như lễ phép, nhưng người nghe hiểu ngay đó là lời phê phán. Trong sách Ngữ văn, lối nói này được gọi là biện pháp tu từ nói mỉa; trong đời thường, ta hay gọi là “giọng mỉa mai” hay “nói mát”.
| Khái niệm | Nói ngược với ý thật, dùng vẻ khen để chê, để chế giễu |
| Nghĩa thứ hai | (tính từ) trái ngược một cách trớ trêu, đáng buồn |
| Thuộc | Biện pháp tu từ nói mỉa; hay gặp trong văn trào phúng |
| Dấu hiệu nhận biết | Lời khen hoặc lời trang trọng đặt vào chỗ không xứng, ngữ cảnh lật ngược nghĩa |
| Học ở | Ngữ văn 12 Kết nối tri thức, tập một, Bài 1 (Thực hành tiếng Việt) |

Mỉa mai: khen mà thật ra là chê
Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học giải thích mỉa mai là mỉa bằng cách nói ngược lại với ý mà mình muốn cho người ta hiểu, và ghi mai mỉa là từ đồng nghĩa. Wiktionary tiếng Việt thêm một nét nghĩa tính từ: trái ngược một cách đáng buồn với điều người ta nghĩ. Ta vẫn nói kiểu ấy khi gặp chuyện trớ trêu: thật mỉa mai, người hô hào tiết kiệm lại là người tiêu hoang nhất.
Khi học thành biện pháp tu từ, Ngữ văn 12 bộ Kết nối tri thức đặt nói mỉa cạnh nghịch ngữ trong phần Thực hành tiếng Việt sau đoạn trích Xuân Tóc Đỏ cứu quốc. Cách hiểu chung là: lời nói có hai lớp nghĩa, lớp bề mặt (hiển ngôn) thì tích cực hoặc trung tính, lớp bên dưới (hàm ngôn) thì chê bai, và hai lớp đó cố tình trái nhau. Điều quan trọng là người nói mỉa không giấu ý thật; họ muốn người nghe nhận ra cái ngược ấy. Đó là chỗ khác nhau căn bản giữa mỉa mai và nói dối.
Trong tiếng Anh, nét nghĩa gần nhất là irony (nói ngược, trớ trêu) và sarcasm (mỉa mai có ý chọc, có ý làm đau).
Ba trang văn có giọng mỉa mai
Đề đọc hiểu hỏi về nói mỉa thường đòi hai việc: chỉ ra câu mỉa và nói rõ nó chế giễu điều gì. Ba ví dụ dưới đây đi từ thơ trung đại đến tiểu thuyết hiện đại.
Hai tiếng “tiểu thư” của Thúy Kiều
Thoạt trông nàng đã chào thưa:
Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây?
Trong cảnh báo oán, Hoạn Thư bị giải đến trước trướng, còn Kiều ngồi ở ghế người xử án. Ấy vậy mà Kiều vẫn “chào thưa”, vẫn gọi “tiểu thư” như hồi còn là hoa nô trong phủ họ Hoạn. Cách xưng hô kính cẩn, đặt đúng vào lúc vai vế đã đảo ngược, chính là lời mỉa sắc nhất: nó nhắc Hoạn Thư nhớ lại từng ngày hành hạ người khác. Một số bản in chép “Thoắt trông”. Đoạn này được hướng dẫn kĩ ở bài soạn đoạn Kiều báo ân, báo oán.
Một gã hạ lưu thành người “cứu quốc”
Nhan đề Xuân Tóc Đỏ cứu quốc đã là một câu mỉa. Xuân vốn là tay lưu manh, lần này cố tình thua nhà vô địch Xiêm La trong một trận quần vợt theo lệnh trên, rồi được đám đông tung hô như anh hùng cứu nước. Vũ Trọng Phụng dùng chữ “cứu quốc” rất trang trọng cho một việc rất lố bịch; khoảng cách giữa hai thứ đó là tiếng cười. Người kể còn đọc chức tước các vị trên khán đài bằng giọng trang nghiêm giả, như một bản tin chính thức. Xem thêm ở câu hỏi đọc hiểu đoạn trích Số đỏ lớp 12.
Lời mỉa trong một câu nói hằng ngày
Một ví dụ tự đặt: một bạn đi học muộn ba buổi liền, cô giáo nói “Em chăm thật đấy, tuần này đã ba lần đến lớp đúng lúc trống trường đánh xong”. Chữ “chăm” và cụm “đúng lúc” là lời khen bề mặt; số lần muộn mới là điều cô muốn nói. Cũng câu ấy, nói với giọng đều đều, mặt nghiêm, thì sức mỉa còn mạnh hơn.
Bốn cách nhận ra một câu mỉa mai
- Lời và việc không khớp nhau. Lời khen, lời chúc mừng, danh hiệu cao đẹp được gắn cho một việc làm tệ hoặc một người không xứng.
- Ngữ cảnh lật ngược nghĩa. Tách riêng câu ra thì bình thường; đặt vào tình huống mới thấy nghĩa ngược. Vì vậy khi làm bài phải đọc cả đoạn chứ đừng tách riêng một câu.
- Từ ngữ phóng to. Những chữ trang trọng, Hán Việt, hoặc từ nhấn mạnh như “thật là”, “quá cơ”, “giỏi ghê” đứng trước một việc nhỏ nhặt.
- Dấu hiệu trên trang giấy. Chữ được đặt trong ngoặc kép dù không phải lời dẫn, hay dấu chấm than, dấu chấm lửng đặt sau lời khen. Trong lời nói thì là giọng kéo dài, nhấn sai chỗ.
Trên tin nhắn, giọng mỉa còn được gửi gọn bằng icon mặt đảo mắt, kiểu ngán ngẩm không nên dùng khi nói chuyện với người lớn.
Mỉa bằng lời, mỉa bằng tình huống, mỉa bằng tên gọi
Không có bảng phân loại chính thức nào trong sách giáo khoa, nhưng khi đọc văn, có thể gom các câu mỉa thành ba nhóm cho dễ phân tích:
- Mỉa bằng lời nói ngược: nhân vật hay người kể khen để chê, như hai chữ “tiểu thư” ở trên.
- Mỉa bằng tình huống: sự việc tự nó trớ trêu, người viết chỉ cần kể lại. Đây là nét nghĩa tính từ của từ “mỉa mai”: thật mỉa mai khi kẻ phá hoại lại được trao huy chương.
- Mỉa bằng tên gọi, nhan đề: chọn một danh xưng cao đẹp cho đối tượng tầm thường, như nhan đề “cứu quốc” của Vũ Trọng Phụng.
Ngoài đời, lời mỉa hay đi kèm một nét mặt rất quen: cái cười khẩy, nhếch mép rồi hắt ra một hơi ngắn.
Mỉa mai đứng ở đâu giữa châm biếm, cà khịa và nghịch ngữ?
| Khái niệm | Cốt lõi | Ví dụ ngắn |
|---|---|---|
| Mỉa mai (nói mỉa) | Nói ngược ý thật, khen để chê | “Giỏi thật, làm vỡ cả ba cái cốc” |
| Châm biếm | Chỉ ra cái xấu để phê phán, có thể dùng nhiều cách, nói mỉa chỉ là một cách | Truyện cười chê thói khoe khoang |
| Cà khịa | Từ khẩu ngữ, trêu chọc để gây chuyện hoặc cho vui, không nhất thiết nói ngược | Bình luận chọc đội bóng thua |
| Nghịch ngữ | Ghép hai từ trái nghĩa vào một cụm; có khi để mỉa, có khi không | Nhan đề “Hạnh phúc của một tang gia” |
| Hài hước | Gây cười nhẹ, không nhằm chê ai | Câu đố mẹo, chuyện vui |
Châm biếm là cái đích, nói mỉa là một công cụ để đến đích ấy; còn trào phúng là tên chung cho cả dòng văn dùng tiếng cười để phê phán, xem bài các cung bậc của tiếng cười trào phúng. Cà khịa là chuyện của mạng xã hội và có sắc thái riêng, được giải thích ở bài từ gốc Nam Bộ cà khịa. Với nghịch ngữ, chỗ dễ nhầm nhất là: nói mỉa nói khác ý thật, còn nghịch ngữ có thể nói đúng ý thật mà vẫn chứa mâu thuẫn; bài dấu hiệu và tác dụng của nghịch ngữ có phân tích kĩ.
Thực hành nhận diện lời nói mỉa
Câu 1: Câu nào dưới đây có dùng biện pháp nói mỉa? (a) “Bạn ấy học giỏi nên được thầy khen.” (b) “Bạn ấy giỏi quá, kiểm tra nào cũng chép bài bạn bên cạnh đủ điểm.”
Đáp án: Câu (b). Từ “giỏi quá” là lời khen bề mặt, nhưng phần sau cho thấy cái “giỏi” ấy là gian lận. Câu (a) khen thật, không có lớp nghĩa ngược.
Câu 2: Trong hai câu thơ “Thoạt trông nàng đã chào thưa: / Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây?”, từ ngữ nào mang ý mỉa mai? Tác dụng?
Đáp án: Hai chữ “chào thưa” và “tiểu thư”. Cách xưng hô kính cẩn đặt vào lúc Hoạn Thư đã thành phạm nhân làm lộ sự đảo ngược vai vế, vừa chế giễu vừa nhắc lại tội ác cũ của Hoạn Thư, cho thấy Kiều sắc sảo chứ chẳng hề nhu nhược.
Câu 3: Vì sao nhan đề “Xuân Tóc Đỏ cứu quốc” được xem là có giọng mỉa mai?
Đáp án: Vì chữ “cứu quốc” vốn dành cho việc lớn lao, cao cả, lại gắn với một nhân vật lưu manh và một trận đấu dàn xếp. Sự lệch giữa danh xưng và thực chất phơi bày cái lố bịch của cả xã hội đang tung hô Xuân.
Câu 4: Viết một câu nói mỉa phê phán thói xả rác nơi công cộng và chỉ ra lớp nghĩa bề mặt, lớp nghĩa ngầm.
Đáp án tham khảo: “Bãi biển hôm nay được trang trí rất công phu: túi ni lông xanh đỏ trải khắp bờ cát.” Bề mặt là lời khen cảnh đẹp (“trang trí công phu”); nghĩa ngầm là chê người tắm biển xả rác bừa bãi.
Mỉa mai trong lời nói thường ngày và trong đề đọc hiểu
Nói mỉa là gì, có giống mỉa mai không?
Về cơ bản là một. “Nói mỉa” là tên sách giáo khoa dùng cho biện pháp tu từ; “mỉa mai” là từ thường ngày, vừa chỉ hành động nói mỉa vừa chỉ thái độ, giọng điệu. Khi làm bài, viết “biện pháp tu từ nói mỉa” cho đúng thuật ngữ.
Mỉa mai tiếng Anh là gì?
Động từ có thể dịch là to be sarcastic hoặc to mock; danh từ là sarcasm hay irony. Sarcasm thường gắt hơn, nhằm vào người nghe; irony rộng hơn, gồm cả sự trớ trêu của tình huống.
Giọng mỉa mai là giọng như thế nào?
Là giọng nói hay giọng văn mà lời thì khen, ý thì chê. Trong văn bản, nó lộ ra qua từ ngữ trang trọng đặt sai chỗ, dấu ngoặc kép, dấu chấm than; trong lời nói, qua ngữ điệu kéo dài và nét mặt.
Mỉa mai người khác có phải là thiếu tôn trọng không?
Thường là có, nếu nhằm vào một người cụ thể ngoài đời: câu mỉa dễ làm người nghe tổn thương hơn một lời góp ý thẳng. Trong văn chương, mỉa mai lại là vũ khí phê phán cái xấu của xã hội, nên được đánh giá theo đối tượng mà nó nhắm tới.