Tệ nạn xã hội là những hiện tượng xấu đã thành thói, lan khá rộng trong xã hội, gồm các hành vi lệch chuẩn mực, trái đạo đức và vi phạm pháp luật, gây hại cho chính người vướng vào, cho gia đình họ và cho cộng đồng. Đây cũng là khái niệm mở đầu bài phòng, chống tệ nạn xã hội trong môn Giáo dục công dân.
| Nghĩa ngắn | Thói xấu phổ biến, vi phạm đạo đức và pháp luật, gây hậu quả cho cộng đồng |
| Gốc từ | Hán Việt: tệ (弊, xấu, hư hỏng) + nạn (難, tai họa) + xã hội |
| Loại từ | Cụm danh từ |
| Hay gặp nhất | Ma túy, cờ bạc, mại dâm; cùng nhóm còn có mê tín dị đoan, nghiện rượu, đua xe trái phép |

Hiểu chữ tệ nạn xã hội cho đúng
Từ điển tiếng Việt giảng tệ nạn là thói quen xấu tương đối phổ biến trong xã hội và có tác hại rất lớn; từ đồng nghĩa là tệ lậu. Chữ tệ (弊) mang nghĩa hư hỏng, có hại, cũng là chữ tệ trong tệ hại, tệ bạc; chữ nạn (難) là tai họa, như trong tai nạn, hoạn nạn. Thêm hai chữ “xã hội” để chỉ rõ cái hại ấy không dừng ở một người.
Sách Giáo dục công dân diễn đạt theo hướng pháp lí hơn: tệ nạn xã hội là hiện tượng xã hội gồm những hành vi sai lệch chuẩn mực, vi phạm đạo đức và pháp luật, để lại hậu quả xấu về nhiều mặt. Như vậy một hành vi muốn bị gọi là tệ nạn xã hội thường phải đủ ba nét:
- Lệch chuẩn: đi ngược điều mà số đông coi là đúng, là tốt.
- Có tính lan rộng: không phải một lần lỡ lầm của một người, mà là thói đã hình thành ở nhiều nơi, dễ lôi kéo người khác.
- Gây hại chung: làm tổn hại sức khỏe, tiền bạc, hạnh phúc gia đình và trật tự an toàn xã hội.
Pháp luật Việt Nam không có một văn bản riêng định nghĩa “tệ nạn xã hội”. Từng loại hành vi được điều chỉnh ở các luật khác nhau, như luật về phòng, chống ma túy, các quy định về cờ bạc, về trật tự công cộng.
Những dạng tệ nạn học sinh cần nhận ra
Ba tệ nạn được sách giáo khoa gọi tên đầu tiên và coi là nguy hiểm nhất là ma túy, cờ bạc, mại dâm. Chúng thường kéo theo nhau và hay dẫn tới phạm tội. Ngoài ra, những hiện tượng sau cũng thường được xếp vào nhóm tệ nạn:
- mê tín dị đoan, lợi dụng bói toán để lừa tiền;
- uống rượu bia say xỉn gây rối, nghiện rượu;
- tụ tập đua xe trái phép;
- cá cược, đánh bạc qua mạng dưới vỏ trò chơi.
Với tuổi học trò, dấu hiệu cần cảnh giác thường đến rất “nhẹ nhàng”: một lời rủ thử cho biết, một trò chơi đặt cược bằng tiền tiêu vặt, một nhóm bạn mới hay tụ tập khuya. Nhận ra sớm cái bẫy ấy quan trọng hơn thuộc lòng định nghĩa.
Cần tách bạch tệ nạn với những vấn đề gần nó. Bắt nạt bạn bè là một vấn nạn học đường riêng, đã có bài giải nghĩa chuyện bạo lực trong trường học. HIV/AIDS là một căn bệnh có thể lây qua một số tệ nạn chứ bản thân nó không phải tệ nạn, và người mắc bệnh không đáng bị kì thị.
Vì sao người ta sa vào tệ nạn?
Nguyên nhân thường được chia làm hai phía.
Từ bên trong mỗi người: tò mò, thích thử cảm giác lạ; muốn được nhóm bạn công nhận; lười lao động mà muốn có tiền nhanh; thiếu hiểu biết về pháp luật và về tác hại; buồn chán, bế tắc mà không biết tìm ai chia sẻ.
Từ bên ngoài: gia đình buông lỏng quản lí hoặc thường xuyên xung đột; bạn bè xấu rủ rê, có khi ép buộc; kẻ xấu lợi dụng sự non nớt để lôi kéo; mặt trái của kinh tế thị trường và mạng xã hội, nơi những lời mời “kiếm tiền dễ” hay “chơi thử” xuất hiện ngay trên điện thoại.
Hai phía này gặp nhau thì nguy cơ tăng lên nhiều lần. Một bạn trẻ vững vàng vẫn có thể từ chối lời rủ rê; một bạn đang chán nản, thiếu người lắng nghe thì dễ gật đầu hơn.
Cái giá phải trả: bản thân, gia đình, cộng đồng
| Đối với | Tác hại |
|---|---|
| Bản thân | Suy giảm sức khỏe, sa sút học tập, mất tiền, mất lòng tin; dễ vi phạm pháp luật |
| Gia đình | Kinh tế kiệt quệ, nợ nần, bất hòa, cha mẹ con cái tổn thương |
| Xã hội | Gia tăng tội phạm, mất trật tự an toàn, lây lan bệnh tật, suy thoái đạo đức |
Tác hại của tệ nạn xã hội đáng sợ nhất ở tính dây chuyền. Thua bạc thì vay, vay không trả được thì nảy ý xấu; nghiện ngập thì cần tiền, cần tiền thì dễ phạm tội. Mỗi mắt xích kéo người ta lún sâu hơn, nên phòng ngừa từ đầu luôn dễ hơn gỡ ra.
Nói không với tệ nạn: từ việc nhỏ đến bài văn nghị luận
Bài Giáo dục công dân về phòng, chống tệ nạn xã hội nhắc học sinh mấy điều giản dị: tìm hiểu để biết tác hại và quy định pháp luật; sống lành mạnh, có sở thích tích cực; biết từ chối dứt khoát; tránh xa nơi và người có dấu hiệu lôi kéo; khi bị rủ rê, đe dọa thì báo ngay cho cha mẹ, thầy cô hoặc người có trách nhiệm.
Đề văn nghị luận về một vấn đề xã hội cũng hay chọn đề tài này. Khung bài có thể đi theo bốn bước: giải thích khái niệm; nêu thực trạng bằng hiện tượng gần gũi, không cần số liệu khó kiểm chứng; phân tích nguyên nhân, hậu quả; đề xuất giải pháp từ bản thân, gia đình, nhà trường. Các bài mẫu cùng dạng có trong tuyển văn mẫu bàn về một vấn đề xã hội lớp 11. Ý giải pháp có thể nối sang lối sống văn minh, tôn trọng luật chung.
Nếu bản thân hoặc người thân đã vướng vào một tệ nạn như nghiện chất, hãy tìm sự hỗ trợ của bác sĩ, chuyên gia tư vấn hoặc cơ quan chức năng ở địa phương thay vì tự xoay xở một mình.
Tệ nạn xã hội qua mấy câu hỏi của học sinh
Tệ nạn xã hội gồm những gì?
Ba tệ nạn được coi là nguy hiểm nhất là ma túy, cờ bạc và mại dâm. Ngoài ra còn mê tín dị đoan, nghiện rượu gây rối, đua xe trái phép, cá cược qua mạng.
Tệ nạn xã hội học đường là gì?
Là những tệ nạn len vào môi trường học sinh, như cá cược bằng tiền tiêu vặt, rủ nhau thử chất kích thích, tụ tập đua xe. Nhà trường và gia đình cần phối hợp phát hiện sớm vì học sinh dễ bị lôi kéo.
Hút thuốc lá có phải tệ nạn xã hội không?
Cách xếp loại không thống nhất: có tài liệu đặt thuốc lá chung nhóm với rượu bia trong danh sách tệ nạn, có tài liệu chỉ coi đó là thói quen có hại. Dù xếp thế nào, pháp luật cấm bán thuốc lá cho người chưa đủ 18 tuổi, nên với học sinh đây vẫn là việc nên nói không.
Tệ nạn xã hội tiếng Anh là gì?
Thường dịch là social evils; trong văn bản khác có thể gặp social vices.