Bình đẳng giới là khi nam và nữ đứng ngang hàng nhau về chỗ đứng lẫn vai trò, được trao cơ hội như nhau để phát huy năng lực và cùng hưởng thành quả mình làm ra, trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Hiểu bình đẳng giới nghĩa là gì cho đúng thì phải nhớ: đây không phải chuyện bắt hai giới giống hệt nhau, mà là chuyện không ai bị thiệt chỉ vì mình là con trai hay con gái.
| Nghĩa ngắn | Nam, nữ ngang nhau về vị trí, vai trò, cơ hội và quyền lợi |
| Gốc từ | Hán Việt: bình đẳng (ngang hàng) + giới (đặc điểm xã hội của nam, nữ) |
| Căn cứ pháp lí | Luật Bình đẳng giới số 73/2006/QH11, hiệu lực từ 01/7/2007 |
| Trái nghĩa | Bất bình đẳng giới, phân biệt đối xử về giới |

Luật Việt Nam định nghĩa bình đẳng giới thế nào?
Định nghĩa gốc nằm ở khoản 3 Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006. Theo đó, nam và nữ phải có “vị trí, vai trò ngang nhau”; hai giới đều được tạo điều kiện, cơ hội để phát huy năng lực, đóng góp cho gia đình và cộng đồng, rồi cùng hưởng phần thành quả mà sự phát triển ấy mang lại.
Câu luật dài nhưng gói được ba ý. Một là vị thế: không giới nào đứng trên giới nào. Hai là cơ hội: được học, được làm, được thử sức như nhau. Ba là thụ hưởng: công sức bỏ ra thì phần nhận về cũng tương xứng. Thiếu một trong ba, sự “bình đẳng” chỉ còn trên giấy.
Cũng trong Điều 5, luật tách rõ hai chữ hay bị dùng lẫn. Giới tính là đặc điểm sinh học của nam và nữ. Giới là đặc điểm, vị trí, vai trò của họ trong các quan hệ xã hội. Giới tính gần như có sẵn từ lúc sinh ra; còn những chuyện như “con gái phải lo bếp núc”, “con trai không được khóc” là thứ xã hội gán cho, và có thể thay đổi.
Ở tầm quốc tế, Liên Hợp Quốc đưa “đạt được bình đẳng giới, trao quyền cho phụ nữ và trẻ em gái” thành mục tiêu số 5 trong 17 Mục tiêu Phát triển bền vững.
Gốc của cụm từ này là hai chữ bình đẳng (平等), nghĩa là ngang hàng nhau về quyền lợi và địa vị.
Trong nhà, ở trường, nơi làm việc: bình đẳng trông ra sao?
Luật dành hẳn một chương nói về bình đẳng giới trong từng lĩnh vực: chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục, khoa học, văn hóa, thể thao, y tế và gia đình. Đem về đời thường, có thể nhận ra qua mấy cảnh quen:
- Trong nhà, việc nấu cơm, rửa bát, đưa đón em được chia theo thời gian rảnh của từng người, không mặc định là phần của mẹ hay của chị gái.
- Ở trường, bạn nữ thích lập trình hay bạn nam thích múa đều được khuyến khích như nhau, không ai bị bảo “môn đó không hợp với giới mày”.
- Khi đi làm, hai người cùng vị trí, cùng hiệu quả thì nhận lương như nhau; xét thăng chức dựa trên năng lực chứ không dựa vào giới tính.
- Trong họp lớp, họp tổ dân phố, ý kiến của nam và nữ được lắng nghe với cùng một sức nặng.
Ngược lại, bất bình đẳng lộ ra qua những câu nghe tưởng vô hại: “Học nhiều làm gì, con gái rồi cũng đi lấy chồng”, hay “Đàn ông mà đi chợ thì ra gì”. Luật gọi kiểu suy nghĩ ấy là định kiến giới, tức nhận thức, thái độ thiên lệch, tiêu cực về năng lực, vai trò của nam hoặc nữ.
Định kiến giới từ đâu mà có và để lại gì
Gốc rễ sâu nhất là nếp nghĩ trọng nam khinh nữ tồn tại hàng trăm năm trong xã hội phong kiến. Người con trai được coi là người nối dõi, lo việc thờ cúng; người con gái thường bị xem là “con người ta” khi đi lấy chồng. Nếp nghĩ đó truyền từ đời này sang đời khác qua lời ông bà, qua cách chia việc trong bữa cơm, qua cả đồ chơi mua cho trẻ: búp bê cho bé gái, siêu nhân cho bé trai. Lối gia đình mà người cha quyết hết mọi việc, gọi là thói gia trưởng, cũng mọc lên từ mảnh đất ấy.
Cái giá của định kiến đâu riêng phụ nữ phải trả. Bạn gái mất cơ hội học tiếp, mất tự tin khi chọn ngành kĩ thuật. Bạn trai lại bị ép phải mạnh mẽ, không được buồn, không được nhờ giúp, nên nhiều khi ôm nỗi lo một mình. Ở quy mô xã hội, bỏ phí năng lực của một nửa dân số là thiệt hại cho tất cả. Những hủ tục như lấy vợ lấy chồng khi chưa đủ tuổi cũng thường gắn với cái nhìn coi nhẹ việc học của con gái.
Bình đẳng giới không có nghĩa là cào bằng
Hiểu nhầm phổ biến nhất là tưởng bình đẳng thì mọi thứ phải chia đôi chính xác. Thật ra, vì nam và nữ khác nhau về sinh học, có lúc đối xử “giống hệt” lại thành bất công. Luật Bình đẳng giới có khái niệm biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới: khi chênh lệch giữa hai giới quá lớn, Nhà nước được áp dụng biện pháp riêng trong một thời gian để kéo khoảng cách lại gần, rồi dừng khi đã đạt mục đích. Bên cạnh đó, luật lao động cũng có điều khoản riêng nhằm bảo vệ lao động nữ, như chế độ thai sản, và các quy định ấy không trái với nguyên tắc bình đẳng.
| Bình đẳng giới | Cào bằng | |
|---|---|---|
| Cách nhìn | Tính đến khác biệt để ai cũng có cơ hội thật | Bỏ qua khác biệt, chia đều mọi thứ |
| Ví dụ | Nghỉ thai sản cho mẹ, khuyến khích bố cùng chăm con | Bắt mọi người khuân vác như nhau bất kể sức khỏe |
| Kết quả | Năng lực từng người được dùng đúng chỗ | Thiệt cho người yếu thế hơn |
Ý này gần với cách phân biệt giữa bình đẳng và lẽ công bằng trong cách đối xử: công bằng là mỗi người nhận đúng phần xứng đáng với hoàn cảnh và đóng góp của mình.
Thân phận người phụ nữ qua trang văn trung đại
Văn học trong chương trình Ngữ văn để lại nhiều hình ảnh về hậu quả của bất bình đẳng giới. Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ là người vợ hiền, nết na, vậy mà chỉ vì lời ngây thơ của đứa con và tính đa nghi của chồng, nàng không được thanh minh, phải tìm đến cái chết. Bài phân tích nhân vật Vũ Nương cho thấy rõ người phụ nữ khi ấy không có tiếng nói trong chính gia đình mình.
Hồ Xuân Hương thì chọn cách khác: mượn chiếc bánh trôi nhỏ bé để nói về thân phận lênh đênh, tùy người nặn, nhưng vẫn giữ “tấm lòng son”. Đó là tiếng nói hiếm hoi tự khẳng định giá trị của người phụ nữ giữa xã hội trọng nam. Khi viết bài nghị luận về bình đẳng giới, học sinh có thể dùng hai tác phẩm này làm dẫn chứng đối chiếu xưa và nay.
Bình đẳng giới: vài câu hỏi hay gặp
Bình đẳng giới nghĩa là gì nói ngắn gọn?
Là nam và nữ ngang nhau về vị trí, vai trò, cơ hội phát triển và quyền được hưởng thành quả. Không ai được ưu tiên hay bị thiệt chỉ vì giới tính của mình.
Bình đẳng giới có phải chỉ bảo vệ phụ nữ không?
Không. Luật áp dụng cho cả nam và nữ. Vì phụ nữ thường chịu thiệt nhiều hơn nên các biện pháp hỗ trợ hay hướng về phía nữ, nhưng nam giới cũng được bảo vệ trước định kiến, chẳng hạn quyền được nghỉ chăm con khi vợ sinh.
Giới và giới tính khác nhau thế nào?
Giới tính thuộc về cơ thể, có từ khi chào đời. Còn giới nói về vai trò, chỗ đứng mà xã hội gán cho nam và nữ, do con người tạo ra và có thể thay đổi theo thời gian, theo nền văn hóa.
Học sinh có thể làm gì để thúc đẩy bình đẳng giới?
Bắt đầu từ việc nhỏ: chia việc nhà công bằng với anh chị em, không trêu bạn vì “con trai mà điệu”, “con gái mà nghịch”, tôn trọng lựa chọn môn học, sở thích của bạn khác giới. Khi thấy bạn bị phân biệt đối xử, hãy lên tiếng hoặc báo thầy cô.