Vấn đề cơ bản của triết học là mối quan hệ giữa tư duy với tồn tại; sách tiếng Việt thường viết gọn thành quan hệ vật chất – ý thức. Ph. Ăngghen là người gọi tên vấn đề này. Nó gồm hai mặt: bên nào là gốc, bên nào phụ thuộc; và trí óc con người có với tới được thế giới hay không. Đó cũng là đáp án cho câu ôn thi “vấn đề cơ bản của triết học có mấy mặt”.
| Nghĩa ngắn | Mối quan hệ giữa ý thức (tư duy, tinh thần) và vật chất (tồn tại, tự nhiên) |
| Người nêu | Ph. Ăngghen, trong tác phẩm về L. Phoiơbắc in năm 1886 |
| Gồm | Mặt bản thể luận và mặt nhận thức luận |
| Thường gặp ở | Học phần Triết học Mác – Lênin ở đại học; sách Giáo dục công dân 10 chương trình cũ |

Vấn đề cơ bản của triết học theo Ăngghen
Năm 1886, Ăngghen viết tác phẩm thường được dịch là Lútvích Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức. Ở chương hai, ông cho rằng vấn đề lớn nhất của mọi triết học, nhất là triết học thời cận đại, là quan hệ giữa tư duy với tồn tại. Ông còn lần ngược nguồn gốc câu hỏi về rất xa, tới thời con người mới bắt đầu nghĩ rằng có một “linh hồn” tách được khỏi thân xác.
Hai chữ trong định nghĩa cần hiểu cho rộng. Tư duy ở đây đứng thay cho mọi thứ thuộc tinh thần: ý thức, cảm giác, ý niệm, kể cả “tinh thần thế giới” mà một số nhà triết học tin là có. Tồn tại đứng thay cho thế giới vật chất, tự nhiên. Vì vậy, sách tiếng Việt hay viết gọn thành “quan hệ giữa vật chất và ý thức”. Muốn ôn lại chính khái niệm ở vế sau, có bài ý thức theo nghĩa thường và nghĩa triết học.
Vì sao lại gọi là cơ bản?
Gọi là cơ bản không phải vì câu hỏi này khó nhất, mà vì nó nằm ở móng nhà. Giáo trình thường nêu ba lý do:
- Không né được. Hễ bàn về thế giới, về con người hay về tri thức, một học thuyết đã ngầm chọn một câu trả lời: thế giới tự nó có sẵn, hay do một tinh thần nào đó sinh ra.
- Làm tiêu chí chia trường phái. Trả lời mặt thứ nhất thế nào thì học thuyết đứng về phía duy vật hay duy tâm; đây là đường chia lớn nhất trong lịch sử triết học theo cách nhìn của giáo trình.
- Kéo theo các câu hỏi khác. Quan niệm về chân lý, về con người, về xã hội đều được dựng trên lời đáp ấy. Ai tin ý thức quyết định tất cả sẽ giải thích lịch sử khác hẳn người tin điều kiện vật chất là gốc.
Cần nói thêm cho đủ: cách đặt vấn đề này là của truyền thống triết học Mác – Lênin, được dạy chính thức ở Việt Nam. Nhiều trường phái phương Tây thế kỷ 20, như triết học phân tích hay chủ nghĩa hiện sinh, chọn những câu hỏi khác làm trung tâm. Bài nhập môn chữ philosophia và các nhánh triết học có phác qua bức tranh rộng hơn đó.
Hai mặt của vấn đề và những câu trả lời
Mặt thứ nhất: vật chất hay ý thức có trước
Đây là mặt bản thể luận. Có ba hướng trả lời chính.
- Chủ nghĩa duy vật: vật chất là cái gốc, có sẵn từ đầu; ý thức xuất hiện về sau và phụ thuộc vào nó. Các nhà triết học Hy Lạp cổ tìm “chất đầu tiên” của thế giới trong nước, lửa hay nguyên tử đã đi theo hướng này ở dạng mộc mạc.
- Chủ nghĩa duy tâm: ý thức có trước và sinh ra vật chất. Duy tâm chủ quan coi sự vật là phức hợp cảm giác của con người; Béccơli là ví dụ hay được nhắc. Duy tâm khách quan đặt một tinh thần tồn tại bên ngoài con người lên trước, như “ý niệm tuyệt đối” của Hêghen.
- Nhị nguyên luận: vật chất và ý thức là hai bản nguyên ngang nhau, song song tồn tại, không bên nào đẻ ra bên nào. Đềcáctơ thường được xếp vào nhóm này.
Duy vật và duy tâm, vì chỉ thừa nhận một bản nguyên, đều được gọi là nhất nguyên luận.
Mặt thứ hai: con người có biết được thế giới không
Đây là mặt nhận thức luận. Phần lớn các nhà triết học, cả duy vật lẫn duy tâm, đều trả lời là có, nhưng hiểu khác nhau: bên duy vật coi hiểu biết là hình ảnh mà bộ óc người ghi lại từ thế giới bên ngoài; một số nhà duy tâm coi đó là tinh thần tự nhận thức chính nó. Ngược lại, thuyết bất khả tri phủ nhận việc ta chạm được tới bản chất thật của sự vật; Ăngghen nêu tên Hium và Cantơ ở phía này. Đứng gần đó là hoài nghi luận, nghi ngờ khả năng đạt tới tri thức chắc chắn.
Đừng nhầm vấn đề cơ bản với phương pháp biện chứng
| Khái niệm | Trả lời câu hỏi | Các lập trường |
|---|---|---|
| Vấn đề cơ bản của triết học | Bên nào là gốc? Trí óc có hiểu thấu thế giới không? | Duy vật / duy tâm / nhị nguyên; khả tri / bất khả tri |
| Phương pháp tư duy | Xem sự vật trong vận động, liên hệ hay tách rời, đứng yên? | Biện chứng / siêu hình |
| Thế giới quan | Toàn bộ quan niệm của một người về thế giới và chỗ đứng của mình | Thần thoại, tôn giáo, triết học |
Lỗi hay gặp trong bài kiểm tra là ghép “duy vật” với “biện chứng” như thể là một cặp đối lập. Thực ra đó là hai trục khác nhau: có duy vật siêu hình, có duy tâm biện chứng (Hêghen là ví dụ kinh điển). Cặp đối lập của biện chứng là siêu hình, được bàn trong bài phép biện chứng và lối nhìn siêu hình.
Một mẹo nhớ mà nhiều sinh viên dùng: mặt thứ nhất hỏi “cái gì sinh ra cái gì”, mặt thứ hai hỏi “cái đầu có với tới được thế giới không”. Viết đủ hai câu hỏi ấy và gắn mỗi câu với các lập trường tương ứng là đã nắm được phần lõi của câu trả lời.
Vấn đề cơ bản của triết học trong giờ ôn thi
Vấn đề cơ bản của triết học có mấy mặt?
Có hai mặt. Mặt bản thể luận hỏi vật chất và ý thức, bên nào là gốc và chi phối bên kia. Mặt nhận thức luận hỏi con người có đủ sức hiểu đúng thế giới xung quanh mình không.
Ai là người nêu ra vấn đề cơ bản của triết học?
Ph. Ăngghen, trong tác phẩm về L. Phoiơbắc và sự kết thúc của triết học cổ điển Đức, in năm 1886. Câu hỏi thì đã có từ lâu, nhưng chính ông gọi tên và đặt nó làm vấn đề trung tâm.
Vì sao gọi là vấn đề cơ bản của triết học?
Vì không trường phái nào tránh được nó, dù trả lời công khai hay ngầm định; vì lời đáp là tiêu chí chia các trường phái duy vật, duy tâm; và vì nó quyết định cách giải quyết các vấn đề triết học khác.
Lấy ví dụ về hai cách trả lời mặt thứ nhất?
Nhà duy vật sẽ nói ý nghĩ của con người là sản phẩm của bộ óc, một dạng vật chất có tổ chức cao. Nhà duy tâm chủ quan sẽ nói cái bàn chỉ tồn tại vì có người nhìn thấy, sờ thấy nó.