Triết học là môn tìm hiểu những câu hỏi chung nhất về thế giới, về con người và về cách con người nhận biết thế giới ấy: cái gì thật sự tồn tại, ta biết điều gì là đúng bằng cách nào, sống thế nào thì gọi là sống tốt. Ai hỏi “triết học nghĩa là gì” có thể nhớ gọn: đó là thói quen hỏi đến tận gốc, rồi lập luận chặt chẽ để trả lời.
| Nghĩa ngắn | Hệ thống suy nghĩ có lí lẽ về những vấn đề chung nhất của thế giới và đời người |
| Gốc từ | Hy Lạp philosophia = yêu sự thông thái; Hán Việt 哲學: triết (sáng suốt, hiền trí) + học (học, môn học) |
| Loại từ | Danh từ; người nghiên cứu gọi là triết gia, nhà triết học |
| Các nhánh chính | Bản thể luận, nhận thức luận, đạo đức học, logic học, mĩ học |

Triết học: từ “yêu sự thông thái” mà ra
Chữ philosophy của tiếng Anh đi ra từ tiếng Hy Lạp cổ philosophia, ghép bởi philos (yêu, bạn của) và sophia (sự thông thái). Nghĩa đen vì thế không phải là “người thông thái” mà là “người yêu sự thông thái”: triết gia tự nhận mình đang đi tìm, chưa phải đã nắm trọn chân lí. Có tài liệu gán việc đặt ra chữ này cho Pythagoras, nhưng chuyện đó chưa chắc chắn.
Người Việt gọi môn này bằng hai chữ Hán 哲學. Theo Thiều Chửu, triết (哲) là khôn, sáng suốt; người hiền trí gọi là triết, như tiên triết là bậc hiền trí đời trước. Học (學) là học, môn học. Ghép lại, triết học là môn học về sự sáng suốt. Tổ hợp này do học giả Nhật Bản Nishi Amane dùng để dịch khái niệm triết học phương Tây vào thế kỉ XIX, sau đó lan sang Trung Quốc và Việt Nam. Cùng họ chữ 哲 có hiền triết, minh triết, triết lí.
Sinh viên Việt Nam thường học định nghĩa trong giáo trình Triết học Mác – Lênin do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức biên soạn cho bậc đại học. Giáo trình coi triết học là hệ thống hiểu biết ở tầm lí luận, khái quát nhất, mà con người có được về thế giới quanh mình và về chỗ đứng, vai trò của chính mình giữa thế giới đó. Các từ điển và bách khoa thư phương Tây diễn đạt khác nhau, song đều gặp nhau ở hai điểm: triết học bàn những vấn đề chung nhất, và nó dựa vào lập luận chứ không dựa vào thí nghiệm hay niềm tin.
Năm nhánh lớn trong ngôi nhà triết học
Qua hơn hai nghìn năm, triết học chia thành nhiều nhánh. Năm nhánh dưới đây là phần lõi mà giáo trình nhập môn nào cũng nhắc.
| Nhánh | Hỏi về điều gì | Một câu hỏi ví dụ |
|---|---|---|
| Bản thể luận (siêu hình học) | Bản chất của cái tồn tại | Tinh thần có trước hay vật chất có trước? |
| Nhận thức luận | Tri thức là gì, có được bằng cách nào | Làm sao biết điều mình thấy là thật? |
| Đạo đức học | Đúng – sai, thiện – ác trong hành động | Nói dối để cứu người có sai không? |
| Logic học | Quy tắc của lập luận đúng | Từ hai tiền đề này có rút ra được kết luận kia không? |
| Mĩ học | Cái đẹp và nghệ thuật | Vì sao một bài thơ buồn vẫn khiến ta thấy đẹp? |
Phương Đông có những dòng tư tưởng riêng. Khổng Tử và Nho gia chú tâm vào đạo làm người, quan hệ vua – tôi, cha – con, thầy – trò và chuyện tu thân. Lão Tử, Trang Tử với Đạo gia đề cao sống thuận theo tự nhiên. Phật giáo đặt câu hỏi về nỗi khổ và con đường giải thoát. Có thể thấy triết học phương Đông nặng về cách sống và cách cư xử, ít khi tách thành những hệ thống lí thuyết thuần túy như phương Tây.
Phương Tây cổ đại cũng có trường phái coi triết học trước hết là cách sống, rèn mình trước ham muốn và nghịch cảnh: đó là chủ nghĩa khắc kỷ của người Hy Lạp, La Mã.
Lúc nào ta đang “triết lí” mà không biết?
Triết học chẳng phải chỉ nằm trong sách dày. Một đứa trẻ hỏi “chết rồi thì đi đâu?” hay “sao con là con mà không phải bạn kia?” là đang chạm vào câu hỏi triết học. Vài dấu hiệu của lối nghĩ này:
- Hỏi “vì sao” liên tục, đến khi chạm đến điều không thể giải thích bằng một điều khác nữa.
- Muốn định nghĩa cho rõ trước khi tranh luận: tự do là gì, công bằng là gì, hạnh phúc là gì.
- Thử đặt mình vào trường hợp giả định để kiểm tra một nguyên tắc (“nếu ai cũng làm thế thì sao?”).
- Không chấp nhận một điều chỉ vì đông người tin, mà đòi lí lẽ.
Socrates, theo lời học trò Platon kể lại trong Biện hộ, cho rằng một cuộc đời không chịu tự xét lại thì chẳng đáng sống. Descartes thì bắt đầu bằng việc nghi ngờ mọi thứ, để rồi nhận ra chỉ có một điều không thể nghi ngờ: chính mình đang suy nghĩ. Hai ví dụ cho thấy triết học thường khởi đầu bằng một câu hỏi, không phải bằng một câu trả lời có sẵn.
Triết học ra đời thế nào và để làm gì?
Ở cả Hy Lạp, Trung Hoa và Ấn Độ, những hệ thống triết học đầu tiên xuất hiện vào khoảng thiên niên kỉ I trước Công nguyên. Giáo trình thường giải thích bằng hai nguồn gốc. Nguồn gốc nhận thức: khi hiểu biết tích lũy đủ nhiều, con người bắt đầu muốn khái quát chúng, thay những câu chuyện thần thoại bằng lời giải thích có lí lẽ. Nguồn gốc xã hội: lúc lao động đã được phân công, có một lớp người được rảnh tay khỏi việc cày cấy để chuyên suy nghĩ, dạy học.
Vai trò của triết học lớn hơn người ta tưởng. Nhiều khoa học từng nằm trong triết học rồi mới tách ra: vật lí từng được gọi là “triết học tự nhiên”, tâm lí học cũng thoát thai từ đó. Logic học là nền của toán học và tin học. Đạo đức học có mặt trong những cuộc tranh luận rất thời sự như dùng trí tuệ nhân tạo thế nào cho đúng hay chữa bệnh có giới hạn ở đâu.
Với một người bình thường, học triết giúp hình thành thế giới quan (cách nhìn chung về thế giới) và phương pháp suy nghĩ: biết đặt câu hỏi, biết soi lập luận của chính mình, ít bị dắt mũi bởi những lời nói nghe có vẻ hay. Đó cũng là kĩ năng mà một bài văn nghị luận cần.
Triết lí ẩn trong trang văn
Văn chương và triết học vốn gần nhau. Nhiều nhà văn không viết sách triết học nhưng tác phẩm lại đặt ra câu hỏi triết học rất sắc. Vở kịch của Lưu Quang Vũ trong bài soạn vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt là ví dụ quen thuộc nhất với học sinh lớp 12: linh hồn ông Trương Ba phải sống nhờ thân xác anh hàng thịt, và dần bị thân xác ấy kéo theo. Câu hỏi đặt ra là con người có thể sống bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo hay không, tức là câu hỏi về quan hệ giữa tinh thần và thể xác.
Văn học trung đại Việt Nam thấm đẫm tư tưởng Nho, Phật, Lão. Không phải ngẫu nhiên người đời sau gọi Nguyễn Trãi là nhà hiền triết; văn bản Nguyễn Trãi – nhà ngoại giao, nhà hiền triết, nhà thơ (lớp 10) giải thích danh xưng ấy. Ai muốn đọc thêm góc nhìn của giới phê bình có thể xem bài viết về lối triết học ẩn trong văn chương của Hoàng Ngọc Hiến. Triết học và khái niệm văn hóa cũng thường đi cùng nhau, vì tư tưởng của một dân tộc in dấu lên phong tục và lối sống.
Băn khoăn của người mới làm quen với triết học
Triết học nghĩa là gì nói ngắn gọn nhất?
Là “yêu sự thông thái” theo gốc Hy Lạp, hay “môn học về sự sáng suốt” theo chữ Hán. Nói theo kiểu đời thường, triết học là cách suy nghĩ có lí lẽ về những câu hỏi lớn nhất của thế giới và con người.
Đối tượng của triết học là gì?
Triết học nhắm vào những vấn đề bao trùm nhất của thiên nhiên, đời sống xã hội và chính hoạt động suy nghĩ, kèm câu hỏi con người đứng ở đâu giữa tất cả những thứ đó. Khác với vật lí hay sinh học nghiên cứu một mảng riêng, triết học hỏi về cái nền chung của mọi mảng.
Triết học có vai trò gì đối với học sinh?
Học sinh phổ thông chưa học triết như một môn riêng, nhưng thói quen đặt câu hỏi, định nghĩa khái niệm và lập luận chặt chẽ chính là kĩ năng của triết học. Nó giúp viết bài nghị luận tốt hơn và bình tĩnh hơn khi nghe một ý kiến trái chiều.
Triết lí và triết học khác nhau thế nào?
Triết học là cả một ngành với hệ thống lí luận. Triết lí thường chỉ một quan niệm, một bài học về lẽ sống rút ra từ trải nghiệm, như triết lí “ở hiền gặp lành” trong truyện cổ tích.