Biện chứng là cách nhìn sự vật trong mối liên hệ với cái khác, trong sự vận động, thay đổi và phát triển, chứ không coi chúng đứng yên, tách rời. Từ điển ghi hai nét nghĩa: hợp với quy luật vận động khách quan, và dựa trên phép biện chứng. Còn hỏi “phép biện chứng là gì” thì đó là học thuyết, phương pháp triết học xây trên cách nhìn ấy.
| Nghĩa ngắn | Xem xét sự vật trong liên hệ, vận động, phát triển và mâu thuẫn bên trong |
| Gốc từ | Hán Việt 辯證: biện (tranh luận, phân rõ lẽ) + chứng (bằng chứng) |
| Tiếng Anh | dialectic, dialectical; gốc Hy Lạp dialektikē |
| Loại từ | Tính từ (lập luận biện chứng); danh từ trong “phép biện chứng” |
| Trái nghĩa | Siêu hình (về phương pháp tư duy) |

Hai nét nghĩa của chữ biện chứng trong từ điển
Từ điển tiếng Việt xếp biện chứng là tính từ, với hai nghĩa đi liền nhau.
- Hợp với quy luật vận động và phát triển khách quan của sự vật. Ví dụ: sự phát triển biện chứng của một ngôn ngữ, tức ngôn ngữ ấy đổi thay theo lẽ tự nhiên, cái mới nảy ra từ cái cũ.
- Dựa trên phép biện chứng, hợp với phép biện chứng. Ví dụ: cách lập luận rất biện chứng, hiểu vấn đề một cách biện chứng.
Trong lời nói thường ngày, khi khen ai “nghĩ biện chứng”, người ta muốn nói người đó nhìn được nhiều mặt của một chuyện, thấy chuyện hôm nay khác hôm qua, và không vội kết luận chỉ vì một chi tiết. Cách dùng này hơi lỏng so với nghĩa triết học, nhưng đi đúng tinh thần của từ.
Từ cuộc đối thoại Hy Lạp đến chữ 辯證
Tiếng Anh dialectic bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp cổ dialektikē, gắn với động từ dialegesthai nghĩa là trò chuyện, đối đáp. Ban đầu nó là nghệ thuật hỏi qua đáp lại để tìm ra lẽ đúng, phổ biến qua các đối thoại Socrates mà Platon ghi lại. Hai người có ý kiến khác nhau, cứ chất vấn nhau từng bước, cho tới khi chỗ mâu thuẫn trong lập luận lộ ra.
Còn trước đó, Heraclitus đã nói về một thế giới không ngừng biến đổi, nơi các mặt đối lập vừa chống nhau vừa nương nhau. Ý tưởng ấy về sau được coi là mầm mống của biện chứng theo nghĩa “mọi vật đều vận động”.
Khi dịch sang chữ Hán, người ta chọn 辯證. Chữ biện (辯) nghĩa là tranh luận để phân rõ phải trái, cùng họ với hùng biện, biện luận, biện hộ. Chữ chứng (證) là dựa vào điều đã thấy, đã nghe để xét sự thật, như trong chứng cứ, chứng minh. Ghép lại, biện chứng là tranh biện có bằng chứng: một cái tên giữ được dấu vết của nghĩa “đối thoại” thuở ban đầu. Cần phân biệt với biến chứng (biến 變 = thay đổi), một từ của y học chỉ bệnh trở nặng thêm, khác hẳn nghĩa.
Biện chứng và siêu hình: hai cách nhìn ngược nhau
Trong triết học, phép biện chứng đã đi qua ba giai đoạn lớn. Biện chứng cổ đại ở Hy Lạp, Trung Hoa, Ấn Độ còn mang tính trực quan, chất phác. Biện chứng duy tâm đạt đỉnh ở triết gia Đức Hegel, người coi sự vận động của ý niệm là gốc của mọi thứ. Marx và Engels giữ lại “hạt nhân hợp lý” ấy nhưng đặt nó trên nền duy vật, gọi là phép biện chứng duy vật, gồm hai nguyên lý (mối liên hệ phổ biến, sự phát triển) và ba quy luật (lượng đổi dẫn đến chất đổi; thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập; phủ định của phủ định). Muốn đặt các khái niệm này vào bức tranh chung, có thể đọc trước triết học và các trường phái lớn của nó.
| Tiêu chí | Biện chứng | Siêu hình |
|---|---|---|
| Nhìn sự vật | Trong mối liên hệ với cái khác | Cô lập, tách rời |
| Về thay đổi | Luôn vận động, có lúc đổi về chất | Đứng yên, hoặc chỉ tăng giảm về lượng |
| Về mâu thuẫn | Coi mâu thuẫn bên trong là nguồn gốc của phát triển | Coi các mặt đối lập có ranh giới tuyệt đối |
| Ví dụ dễ hiểu | Nước nóng dần, tới 100°C thì hóa hơi: lượng đổi đã thành chất đổi | Coi nước chỉ “nóng hơn” mà không thấy bước chuyển trạng thái |
Gần nghĩa với biện chứng trong đời thường còn có toàn diện, linh hoạt, phát triển. Trái nghĩa, ngoài siêu hình, người ta hay nói phiến diện, một chiều, máy móc, cứng nhắc.
Nghĩ biện chứng khi viết văn nghị luận
Học sinh không cần thuộc ba quy luật mới dùng được tinh thần biện chứng. Trong một bài văn bàn luận về một vấn đề đời sống, cách nghĩ này hiện ra qua mấy thói quen nhỏ:
- Bàn cả hai mặt. Viết về mạng xã hội thì vừa nói chuyện kết nối, vừa nói chuyện nghiện màn hình.
- Đặt vấn đề trong hoàn cảnh. Một lời khuyên đúng với người này, lúc này có thể sai với người khác, lúc khác.
- Thấy sự thay đổi. Thói quen xấu không tự nhiên mà có; nó tích dần từ những lần nhỏ, và cũng sửa được bằng những lần nhỏ.
- Không tuyệt đối hóa. Tránh các câu kiểu “ai cũng…”, “không bao giờ…” khi chưa có dẫn chứng.
Nghĩ biện chứng và thói quen đặt câu hỏi trước khi tin hay đi cùng nhau. Một bên giúp nhìn rộng, bên kia giúp soát kỹ từng lý lẽ.
Muốn chỉ ra hai sự vật ràng buộc, tác động qua lại lẫn nhau, cần nắm dấu hiệu của quan hệ biện chứng cùng vài ví dụ dễ hiểu.
Biện chứng: những câu hỏi hay gặp
Phép biện chứng là gì?
Là học thuyết, đồng thời là phương pháp triết học, nghiên cứu mối liên hệ phổ biến và sự vận động, phát triển của thế giới. Phép biện chứng duy vật trong giáo trình triết học ở Việt Nam gồm hai nguyên lý, ba quy luật cơ bản và các cặp phạm trù.
Tư duy biện chứng là gì?
Là lối nghĩ xem xét một chuyện từ nhiều mặt, trong hoàn cảnh cụ thể và trong sự thay đổi của nó. Người tư duy biện chứng ít khi kết luận vội, và chịu sửa ý mình khi tình hình đã khác.
Biện chứng và siêu hình khác nhau thế nào?
Biện chứng nhìn sự vật trong liên hệ và vận động; siêu hình nhìn chúng tách rời và tĩnh tại. Ở nghĩa phương pháp, hai từ này là một cặp trái nghĩa.
Viết biện chứng hay biến chứng?
Tùy nghĩa. Nói về cách tư duy, lập luận thì viết biện chứng. Nói về bệnh trở nặng, sinh thêm bệnh khác thì viết biến chứng.
Mối quan hệ biện chứng là gì?
Là quan hệ trong đó hai mặt vừa ràng buộc, tác động qua lại, vừa có thể chuyển hóa cho nhau, chứ không tách rời hay chỉ tác động một chiều. Ví dụ quen thuộc trong giáo trình triết học là quan hệ giữa vật chất và ý thức, giữa lượng và chất. Viết rằng hai điều có quan hệ biện chứng nghĩa là muốn hiểu cái này phải đặt nó cạnh cái kia.