Nhị nguyên là cách nhìn cho rằng thế giới, hoặc một sự vật nào đó, được tạo thành từ hai nguồn gốc riêng biệt, không quy được về một. Trong triết học, thuyết nhị nguyên (nhị nguyên luận, tiếng Anh dualism) thường nói về vật chất và tinh thần, thân xác và tâm trí, như hai thực thể riêng, cái này không sinh ra cái kia.
| Nghĩa ngắn | Có hai gốc, hai nguyên lý độc lập; đối lập với nhất nguyên (một gốc) |
| Gốc từ | Hán Việt 二元: nhị (hai) + nguyên (gốc, đầu nguồn) |
| Thuộc | Triết học (bản thể luận, triết học tâm trí); mở rộng sang tôn giáo, đạo đức |
| Sắc thái | Thuật ngữ học thuật, trung tính; nghĩa đời thường dễ bị dùng lẫn với tư duy đúng sai rạch ròi |

Nhị nguyên: hai gốc của một thế giới
Chữ nguyên 元 ở đây là cái đầu tiên, cái gốc, như trong nguyên thủy, nguyên tố. Hỏi một sự vật có mấy “nguyên” tức là hỏi nó bắt nguồn từ mấy thứ không thể chia nhỏ hơn nữa. Trả lời “một” là nhất nguyên, “hai” là nhị nguyên, “nhiều” là đa nguyên.
Triết học gặp câu hỏi này rõ nhất ở chuyện vật chất và ý thức. Phe duy vật cho rằng chỉ có vật chất là gốc, ý thức sinh ra từ bộ não. Phe duy tâm cho rằng tinh thần mới là gốc. Cả hai đều là nhất nguyên, chỉ khác nhau ở chỗ chọn gốc nào. Thuyết nhị nguyên đứng giữa: vật chất và tinh thần là hai thực thể ngang hàng, không cái nào sinh ra cái nào. Bách khoa toàn thư triết học Stanford mô tả lập trường này là coi cái tinh thần và cái vật lý, xét ở tầng căn bản, là hai loại khác nhau. Những câu hỏi về bản chất của vật chất và tinh thần như thế thuộc ngành triết học mà tiếng Việt gọi là siêu hình học.
Tên tuổi gắn chặt nhất với nhị nguyên là René Descartes, nhà triết học Pháp thế kỷ XVII. Ông chia thực tại thành hai: tâm trí là thứ biết suy nghĩ, không chiếm chỗ trong không gian; thân thể là thứ có chiều dài, chiều rộng, vận hành như một cỗ máy. Ý tưởng con người là “hồn trong xác” thật ra đã có từ Platon, nhưng Descartes là người trình bày nó thành hệ thống chặt nhất.
Nhị nguyên, nhất nguyên và âm dương
| Khái niệm | Cho rằng gốc của thế giới là | Ví dụ quan điểm |
|---|---|---|
| Nhất nguyên duy vật | Chỉ vật chất | Ý thức là hoạt động của não bộ |
| Nhất nguyên duy tâm | Chỉ tinh thần, ý niệm | Thế giới là sự biểu hiện của tinh thần |
| Nhị nguyên | Hai thực thể độc lập | Tâm trí và thân thể là hai thứ khác loại |
| Âm dương | Hai mặt bổ sung, chuyển hóa trong một thể thống nhất | Trong âm có dương, trong dương có âm |
Nhiều người thấy âm dương có hai phần nên gọi luôn là nhị nguyên. Gọi vậy dễ sai. Nhị nguyên kiểu Descartes là hai thực thể tách rời; còn âm dương là hai mặt của cùng một chuyển động, cái này lớn lên thì cái kia lùi lại, không bên nào tồn tại một mình. Cách cặp đôi ấy hiện ra trong đời sống được kể ở bài quy ước nam tả nữ hữu và gốc âm dương, còn cặp trời đất trong Kinh Dịch thì có ở bài hai quẻ Càn Khôn.
Muốn đặt nhị nguyên giữa hai phe nhất nguyên, có thể đọc thêm quan điểm duy tâm trong triết học và chủ nghĩa duy vật và lối sống duy vật.
Nhận ra lối nghĩ nhị nguyên qua đâu?
Thuyết nhị nguyên hiếm khi xuất hiện dưới đúng tên gọi. Nó thường nằm sẵn trong cách nói và cách nghĩ quen thuộc:
- Tách hồn với xác. Câu “thân xác ở đây mà hồn để đâu đâu”, hay niềm tin linh hồn rời thể xác sau khi chết, đều giả định hai thứ có thể tách nhau.
- Đặt lý trí đối lập với cơ thể. Coi cảm xúc, cơn đói, cơn mệt là “phần con” phải bị lý trí “phần người” khuất phục.
- Chia thiện và ác thành hai lực lượng. Một số tôn giáo cổ hình dung vũ trụ là cuộc giằng co giữa thần thiện và thần ác, sáng và tối. Giới nghiên cứu gọi đây là nhị nguyên tôn giáo hay nhị nguyên đạo đức.
- Đối lập hai cõi. Cõi trần và cõi thiêng, thế giới ta thấy và thế giới “thật” phía sau, như thuyết ý niệm của Platon.
Điểm chung: hai vế được coi là khác loại, và câu hỏi khó luôn là chúng liên hệ với nhau ra sao.
Vì sao nhị nguyên ra đời, và vấp phải điều gì?
Lý do dễ hiểu nhất nằm ngay trong trải nghiệm. Ta cảm thấy ý nghĩ, nỗi buồn, kí ức của mình không giống một hòn đá hay một cái bàn: chúng không có màu, không cân được, không cắt đôi được. Từ cảm nhận ấy, tách tinh thần khỏi vật chất là bước đi tự nhiên. Tôn giáo và tín ngưỡng nhiều nơi lại cần một linh hồn có thể tồn tại sau cái chết, nên cách nhìn hai thực thể càng có chỗ đứng.
Nhưng nhị nguyên gặp ngay một câu hỏi hóc búa, gọi là vấn đề tương tác: nếu tâm trí không có vật chất, nó làm cách nào khiến cánh tay nhấc lên? Ngay thời Descartes, công chúa Elisabeth xứ Bohemia đã viết thư hỏi ông đúng điều này. Khoa học càng phát triển, người ta càng thấy hoạt động tinh thần gắn chặt với não bộ, và nhiều nhà triết học chuyển sang các lập trường nhất nguyên. Dù vậy, câu hỏi về ý thức vẫn chưa khép lại, và một số nhà triết học hiện đại vẫn bảo vệ những dạng nhị nguyên mới, chẳng hạn nhị nguyên về thuộc tính.
Nhìn rộng ra, nhị nguyên cũng có mặt tích cực: nó buộc người ta phải hỏi cho rõ ý thức là gì, thay vì coi đó là chuyện hiển nhiên. Lối nghĩ biết đặt hai mặt trong quan hệ vận động với nhau thì đã được bàn ở bài phép biện chứng và cái nhìn siêu hình. Còn khi ai đó nói “đừng nhị nguyên thế”, họ thường không bàn chuyện Descartes, mà đang trách lối nhìn chỉ có trắng với đen.
Nhị nguyên qua mấy cách gọi tên
Thuyết nhị nguyên là gì?
Là lập trường triết học coi thế giới có hai thực thể riêng biệt làm gốc của thế giới, phổ biến nhất là vật chất và tinh thần. Nhị nguyên luận và thuyết nhị nguyên là hai cách gọi cùng một khái niệm.
Nhất nguyên và nhị nguyên khác nhau thế nào?
Nhất nguyên cho rằng mọi thứ quy về một gốc duy nhất (vật chất, hoặc tinh thần); nhị nguyên cho rằng có hai gốc ngang hàng, không quy về nhau được. Duy vật và duy tâm đều là nhất nguyên.
Nhị nguyên tiếng Anh là gì?
Là dualism; người theo thuyết này gọi là dualist. Dạng tâm trí – thân thể gọi là mind–body dualism.
Nhị nguyên có phải là tư duy trắng đen không?
Không hẳn. Thuyết nhị nguyên là một lập trường về bản chất thế giới. Thói quen chia mọi việc thành đúng hoặc sai, tốt hoặc xấu là chuyện cách nghĩ hằng ngày, thường được gọi riêng là tư duy nhị nguyên.