Từ vựng là toàn bộ các từ và các cụm từ cố định (thành ngữ, quán ngữ) của một ngôn ngữ, giống như một cái kho chữ mà mọi người nói thứ tiếng ấy cùng dùng chung. Khi nói “vốn từ vựng” của một người, ta chỉ phần kho mà người đó hiểu và dùng được. Từ vựng tiếng Việt vì thế gồm cả từ thuần Việt, từ Hán Việt, từ mượn, từ địa phương lẫn thuật ngữ.
| Khái niệm | Toàn bộ từ và cụm từ cố định của một ngôn ngữ |
| Nghĩa khi nói về một người | Vốn từ: số từ người đó biết nghĩa và dùng được |
| Thuộc | Phần kiến thức về từ trong tiếng Việt (ngành từ vựng học) |
| Dấu hiệu nhận biết | Nói về cả một tập hợp từ, không phải về một từ riêng lẻ |
| Gốc chữ | Hán Việt 詞彙: từ (lời) + vựng (gom theo loại) |

Từ vựng là cả một kho chữ
Theo từ điển của Viện Ngôn ngữ học, từ vựng là danh từ, chỉ toàn bộ các từ vị hoặc các từ của một ngôn ngữ; cụm thường gặp là làm giàu vốn từ vựng hay đơn vị từ vựng. Cũng vì nghĩa ấy mà người học ngôn ngữ học còn gặp chữ từ vị, dùng gần như đồng nghĩa.
Chuyện chữ ở đây khá thú vị. Chữ 詞 (từ) là lời, là đơn vị nhỏ có nghĩa dùng độc lập trong câu. Chữ 彙 theo Khang Hi tự điển vốn đọc là vị, nghĩa là loài, loại, và cũng có nghĩa xếp từng loại lại với nhau. Người Việt lâu nay quen đọc chữ này thành vựng, có lẽ do lẫn với một chữ khác. Ghép lại, từ vựng là “các lời được gom theo loại”, một hình ảnh khá đúng với cuốn từ điển.
Điểm cần nhớ: từ vựng là một tập hợp. Hỏi “con mèo” là gì thì đó là hỏi về một từ; còn hỏi tiếng Việt có những lớp từ nào, lớp nào mượn từ đâu, thì đó là chuyện của từ vựng. Muốn ôn lại đơn vị nhỏ nhất của kho này, xem bài từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa.
Đặt từ vựng cạnh vốn từ, từ ngữ và trường từ vựng
Bốn cách gọi này hay được dùng lẫn trong bài làm của học sinh. Chúng chồng lên nhau một phần nhưng không trùng hẳn.
| Cách gọi | Phạm vi | Ví dụ dùng |
|---|---|---|
| Từ vựng | Cả kho từ của một ngôn ngữ, hoặc một lớp trong kho ấy | Từ vựng tiếng Việt có nhiều từ Hán Việt |
| Vốn từ | Phần từ vựng một người, một lứa tuổi nắm được | Đọc sách giúp vốn từ của em phong phú hơn |
| Từ ngữ | Từ và cụm từ nói chung, thường dùng khi bàn cách diễn đạt | Bài văn dùng từ ngữ chưa chính xác |
| Trường từ vựng | Một nhóm từ có chung một nét nghĩa | Trường từ vựng “mắt”: mi, tròng, nhìn, liếc, ngó |
Hình dung cho dễ: từ vựng là cái kho, vốn từ là phần kho trong đầu mỗi người, còn trường từ vựng là một ngăn xếp các từ cùng nét nghĩa. Bài tập hợp từ có chung một nét nghĩa nói kĩ phần ngăn này, còn chữ “từ ngữ” có bài riêng ở cách hiểu hai chữ từ ngữ.
Thế nào là một đơn vị từ vựng?
Không phải chuỗi chữ nào trong câu cũng là một đơn vị của kho từ vựng. Có ba dấu hiệu giúp nhận ra.
- Có sẵn, không phải tạo ra lúc nói. Bưu điện, mẹ chồng, xe đạp đã nằm sẵn trong kho; người nói lấy ra dùng chứ không ghép mới mỗi lần. Ngược lại, chiếc áo mẹ mua hôm qua là cụm tự do, ghép ra theo nhu cầu.
- Dùng như một khối. Chen chữ khác vào giữa thì nghĩa đổi hoặc câu nghe lạ: xe đạp là tên một loại xe, còn “xe để đạp” chỉ là lời giải thích vụng về.
- Nghĩa không chỉ là phép cộng các tiếng. Ăn cháo đá bát không kể chuyện ăn uống mà chê kẻ vô ơn. Đó là lí do thành ngữ được tính là đơn vị từ vựng ngang với từ; điều này được giải thích thêm ở bài thành ngữ khác cụm từ tự do ra sao.
Như vậy đơn vị của từ vựng gồm từ (từ đơn, từ phức) và cụm từ cố định. Câu thì không: câu được tạo ra mỗi lần nói, theo luật của ngữ pháp.
Chia kho từ vựng tiếng Việt theo ba cách
| Tiêu chí | Các lớp | Ví dụ |
|---|---|---|
| Nguồn gốc | Thuần Việt; Hán Việt; mượn các tiếng Ấn – Âu | nhà, sông; quốc gia, phụ mẫu; cà phê, xà phòng, ti vi |
| Phạm vi sử dụng | Từ toàn dân; từ địa phương; biệt ngữ xã hội; thuật ngữ; tiếng lóng | bát / chén; ba, má; ẩn dụ, quang hợp |
| Cấu tạo | Từ đơn; từ phức (từ ghép, từ láy) | sách; sách vở; lấp lánh |
Lớp gốc Hán có mặt dày đặc trong vốn từ trừu tượng, hành chính, khoa học; ai muốn hiểu vì sao lại như vậy có thể đọc bài lớp từ gốc Hán trong tiếng Việt. Lớp mượn Ấn – Âu đến muộn hơn, nhiều từ đã được Việt hóa đến mức người ta quên là từ mượn: cà phê từ tiếng Pháp café, xà phòng từ savon.
Chia theo phạm vi sử dụng thì có ích nhất khi viết. Từ toàn dân dùng được ở mọi nơi; từ địa phương làm lời nhân vật sống động; thuật ngữ chỉ đúng nghĩa trong một ngành; tiếng lóng hợp với bạn bè hơn là bài kiểm tra.
Từ vựng nhiều lớp trong ca dao, Truyện Kiều và Chiếc lược ngà
Đề đọc hiểu ít khi hỏi “từ vựng là gì”, nhưng rất hay hỏi một từ thuộc lớp nào và vì sao tác giả chọn nó.
Chữ “vô” trong câu ca dao xứ Huế
Đường vô xứ Huế quanh quanh,
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ.
Vô là từ địa phương miền Trung và miền Nam, ứng với từ toàn dân vào. Đổi thành “đường vào” thì câu vẫn đúng nghĩa, nhưng mất đi giọng của người trong vùng. Cùng câu ấy lại có họa đồ, một từ Hán Việt (tranh vẽ), đứng ngay sau chữ “tranh” thuần Việt. Hai lớp từ đi cạnh nhau rất tự nhiên.
Chữ tài, chữ mệnh ở câu mở Truyện Kiều
Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.
Gần hết hai câu là từ thuần Việt, giản dị như lời nói thường. Chỉ có tài (才) và mệnh (命) là gốc Hán, và chính hai chữ ấy mang khái niệm lớn nhất của cả tác phẩm. Nguyễn Du dùng lớp từ Hán Việt đúng chỗ cần sức nặng, còn lại để lời thơ gần với người đọc bình dân.
Má, kêu, thẹo trong truyện của Nguyễn Quang Sáng
Lời bé Thu và người lớn trong Chiếc lược ngà có nhiều từ Nam Bộ như má, kêu (gọi), vô, chén, cái vá, thẹo (sẹo). Những từ này làm nhân vật nói đúng giọng miền sông nước, nên sách thường chú thích ở chân trang thay vì đổi sang từ toàn dân. Phần chuẩn bị đọc trong bài soạn Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng có nhắc học sinh chú ý lớp từ này.
Luyện tập nhận diện các lớp từ vựng
Câu 1: Xếp các từ sau theo nguồn gốc: sông núi, giang sơn, cà phê, phụ nữ, đàn bà, ga-ra.
Đáp án: Thuần Việt: sông núi, đàn bà. Hán Việt: giang sơn, phụ nữ. Mượn tiếng Pháp: cà phê, ga-ra. Để ý từng cặp sông núi – giang sơn, đàn bà – phụ nữ: nghĩa gần nhau nhưng từ Hán Việt nghe trang trọng hơn.
Câu 2: Tìm từ toàn dân tương ứng với các từ địa phương: má, heo, trái, mè, ghe.
Đáp án: má – mẹ; heo – lợn; trái – quả; mè – vừng; ghe – thuyền. Đây đều là từ dùng nhiều ở miền Nam, một số dùng cả ở miền Trung.
Câu 3: Cụm nào là đơn vị từ vựng, cụm nào là cụm tự do: “mẹ chồng”, “cái bàn mới mua”, “ăn cháo đá bát”, “chạy rất nhanh”?
Đáp án: Đơn vị từ vựng: mẹ chồng (từ ghép) và ăn cháo đá bát (thành ngữ). Cụm tự do: cái bàn mới mua, chạy rất nhanh, vì chúng được ghép ra lúc nói và có thể thay chữ tùy ý.
Câu 4: Trong câu “Quang hợp là quá trình cây xanh tạo chất hữu cơ nhờ ánh sáng”, từ nào là thuật ngữ? Nêu một đặc điểm của lớp từ này.
Đáp án: Quang hợp, chất hữu cơ là thuật ngữ sinh học. Thuật ngữ thường chỉ có một nghĩa trong ngành của nó và không mang sắc thái cảm xúc; đọc thêm ở bài từ chuyên môn của từng ngành.
Một chi tiết nhỏ đáng nhớ khi làm bài: viết “từ vựng” chứ không viết “từ vững” hay “tự vựng”. Chữ “vựng” mang dấu nặng, và đó là chữ duy nhất trong cụm này hay bị gõ sai.
Từ vựng trong giờ tiếng Anh và giờ Ngữ văn
Vốn từ vựng là gì, và làm sao để nó lớn lên?
Vốn từ vựng là số từ một người hiểu và dùng được. Nó lớn lên nhờ đọc nhiều thể loại, tra nghĩa từ lạ ngay khi gặp, rồi thử dùng từ ấy trong bài viết của mình. Biết nghĩa mà chưa từng dùng thì từ đó vẫn chỉ nằm ở mép kho.
Từ vựng tiếng Anh là gì?
Từ thường dùng là vocabulary. Trong sách ngôn ngữ học, kho từ của một ngôn ngữ còn được gọi là lexicon. Khi học ngoại ngữ, “học từ vựng” thường hiểu hẹp là học nghĩa, cách đọc và cách dùng của từng từ.
Từ vựng tiếng Việt khác ngữ pháp ở điểm nào?
Từ vựng là nguyên liệu, ngữ pháp là cách lắp ráp. Biết từ mưa, to, quá là việc của từ vựng; xếp chúng thành “Mưa to quá!” là việc của ngữ pháp. Phần lắp ráp có ở bài luật ghép từ thành câu.
Từ vựng học là gì?
Là một ngành của ngôn ngữ học, chuyên nghiên cứu kho từ: từ được cấu tạo ra sao, nghĩa thay đổi thế nào, lớp từ nào mượn từ đâu. Các bài học về từ đơn, từ phức, từ Hán Việt ở trường thực chất là những mảnh kiến thức của ngành này.