Thành ngữ là cụm từ có cấu tạo cố định, đã quen dùng trong dân gian, biểu thị một ý nghĩa trọn vẹn và thường mang nghĩa hình tượng, không cộng lại đơn giản từ nghĩa của từng chữ. Nói “chân cứng đá mềm” là chúc người đi xa khỏe mạnh, vượt khó, chẳng ai bàn chuyện chân với đá. Học sinh gặp thành ngữ từ Tiếng Việt lớp 4 và học kĩ hơn ở Ngữ văn 7.
| Nghĩa ngắn | Cụm từ cố định, quen dùng, nghĩa thường là nghĩa bóng |
| Thuộc | Đơn vị từ vựng của tiếng Việt, dùng như một từ trong câu |
| Dấu hiệu nhận biết | Không thay, không đảo, không chêm chữ; chưa thành câu trọn vẹn |
| Kiểu hay gặp | Thành ngữ so sánh, thành ngữ đối, thành ngữ thường; thuần Việt và Hán Việt |
| Ví dụ | đẹp như tiên, lên thác xuống ghềnh, ếch ngồi đáy giếng |

Sách giáo khoa định nghĩa thành ngữ thế nào?
Ngữ văn 7 xác định thành ngữ là loại cụm từ có cấu tạo cố định, biểu thị một ý nghĩa hoàn chỉnh. Nghĩa của nó có khi hiểu ngay từ nghĩa đen (tham sống sợ chết), nhưng phần nhiều phải qua phép chuyển nghĩa như so sánh, ẩn dụ (lên thác xuống ghềnh chỉ sự gian truân).
Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên nói theo cách gần như vậy: đó là tập hợp từ cố định đã quen dùng, mà nghĩa thường không giải thích được chỉ bằng cách ghép nghĩa từng từ lại. Ví dụ từ điển đưa ra là đứng mũi chịu sào và mẹ tròn con vuông.
Ở tiểu học, sách Tiếng Việt 4 chưa nêu định nghĩa dài mà cho em làm quen qua bài tập, nhất là nhóm thành ngữ so sánh. Một ví dụ là câu 3 trong đề ôn giữa kì một sách Chân trời sáng tạo lớp 4: tìm thành ngữ so sánh với các chữ nhanh, chậm, khỏe, yếu.
Bốn đặc điểm giúp nhận ra một thành ngữ
- Cấu tạo cố định. Không ai nói “mèo mù vớ được cá rán đầu” hay “đá mềm chân cứng”. Thay chữ, đảo chữ là thành ngữ vỡ ra, thậm chí thành câu vô nghĩa.
- Nghĩa trọn vẹn, thường là nghĩa bóng. Nước đổ đầu vịt không tả con vịt mà chỉ việc khuyên bảo chẳng vào đầu ai cả.
- Chưa phải một câu. Thành ngữ mới dừng ở mức cụm từ, nằm trong câu và làm chủ ngữ, vị ngữ hay phụ ngữ, giống một từ: trong câu Cậu ấy ăn cháo đá bát, cụm thành ngữ làm vị ngữ.
- Ngắn mà giàu hình ảnh. Ba, bốn chữ gói cả một cảnh: một nắng hai sương đủ dựng lên người nông dân dậy từ sớm, về khi đã tối.
Vì giàu hình ảnh nên thành ngữ hay đi cùng các phép tu từ. Muốn ôn lại so sánh, ẩn dụ, nói quá, đọc bài những phép tu từ học sinh cần nắm.
Thành ngữ không chỉ có từ xa xưa: câu cầm đèn chạy trước ô tô ra đời khi ô tô đã quen mắt, vậy mà vẫn đủ cấu tạo cố định và nghĩa bóng như những câu cũ.
Thành ngữ so sánh, thành ngữ đối và những kiểu khác
Chia theo cấu tạo
| Kiểu | Cách nhận ra | Ví dụ |
|---|---|---|
| Thành ngữ so sánh | Có chữ như (đôi khi ẩn đi), vế sau là hình ảnh để so | đẹp như tiên, nhanh như chớp, chậm như rùa, rách như tổ đỉa |
| Thành ngữ đối | Hai vế cân nhau, chữ ở vế này đối với chữ ở vế kia | lên thác xuống ghềnh, mẹ tròn con vuông, đầu voi đuôi chuột, ăn gió nằm mưa |
| Thành ngữ thường | Không so sánh, không chia vế đối; thường là một hình ảnh trọn | ếch ngồi đáy giếng, nước đổ đầu vịt, mèo mù vớ cá rán |
Chia theo nguồn gốc: thuần Việt và Hán Việt
Bên cạnh thành ngữ thuần Việt, tiếng Việt mượn khá nhiều thành ngữ bốn chữ từ chữ Hán: đồng cam cộng khổ (cùng chia ngọt sẻ bùi), khẩu phật tâm xà (miệng nói lời từ bi, lòng dạ độc như rắn), tọa sơn quan hổ đấu (ngồi trên núi xem hổ đánh nhau). Nhiều câu gắn với một điển tích ngắn:
- Ếch ngồi đáy giếng (tỉnh để chi oa): chỉ người hiểu biết hạn hẹp mà tưởng mình biết nhiều. Ý này có từ sách Trang Tử; người Việt kể lại thành truyện ngụ ngôn, nay học trong bài soạn truyện con ếch tưởng trời bằng cái vung.
- Nghiêng nước nghiêng thành (khuynh quốc khuynh thành): khen sắc đẹp khiến người ta mất cả thành, cả nước. Gốc là bài hát của Lý Diên Niên đời Hán ca ngợi em gái mình, được chép trong Hán thư.
Người Việt có khi dịch hẳn sang lời Việt (khuynh quốc khuynh thành thành nghiêng nước nghiêng thành), có khi giữ nguyên âm Hán Việt. Ai tò mò về kho thành ngữ gốc thì xem thêm các câu thành ngữ bốn chữ của tiếng Trung.
Một câu Hán Việt khác rất hay gặp là khổ tận cam lai, dịch sát là đắng hết ngọt đến; nghĩa của khổ tận cam lai, kèm câu thơ Kiều dùng đúng ý này, được giải thích kĩ.
Có thành ngữ còn giữ lại từ cổ, như khỏe như vâm, trong đó con vâm là tên gọi cũ của con voi.
Thành ngữ trong Truyện Kiều và thơ Hồ Xuân Hương
Thơ cổ dùng thành ngữ rất tự nhiên. Dưới đây là ba chỗ quen thuộc với chương trình phổ thông.
“Mười phân vẹn mười” và “nghiêng nước nghiêng thành”
Mai cốt cách, tuyết tinh thần,
Một người một vẻ, mười phân vẹn mười.
Tả chị em Thúy Kiều, Nguyễn Du dùng mười phân vẹn mười để nói vẻ đẹp hoàn hảo, không chê được chỗ nào. Ít câu sau, đến lượt Kiều thì nhà thơ mượn nghiêng nước nghiêng thành: sắc đẹp ấy đủ làm người ta điêu đứng. Một thành ngữ thuần Việt, một thành ngữ gốc Hán, đặt gần nhau mà vẫn liền mạch. Toàn văn có ở đoạn trích tả hai chị em họ Vương.
“Cá chậu chim lồng” khi Từ Hải hỏi Kiều
Bõ chi cá chậu, chim lồng mà chơi!
Cá trong chậu, chim trong lồng là cảnh bị giam, mất tự do. Từ Hải dùng thành ngữ để nói mình không muốn kiểu yêu đương tù túng ấy.
“Bảy nổi ba chìm” trong Bánh trôi nước
Thân em vừa trắng lại vừa tròn,
Bảy nổi ba chìm với nước non.
Hồ Xuân Hương đảo thành ngữ ba chìm bảy nổi thành bảy nổi ba chìm cho hợp vần, hợp nhịp. Nghĩa đen là chiếc bánh lúc chìm lúc nổi trong nồi nước; nghĩa bóng là thân phận người phụ nữ lênh đênh. Xem thêm phân tích trong bài tìm hiểu bài thơ chiếc bánh trôi của Hồ Xuân Hương.
Thành ngữ, tục ngữ hay quán ngữ: đặt cạnh nhau cho dễ tách
| Tiêu chí | Thành ngữ | Tục ngữ | Quán ngữ |
|---|---|---|---|
| Hình thức | Cụm từ, chưa thành câu | Một câu trọn vẹn (gọi là “câu tục ngữ”) | Cụm từ cố định |
| Nội dung | Gọi tên, miêu tả một tính chất, trạng thái, hành động | Đúc kết kinh nghiệm, nêu một nhận xét, lời khuyên | Không có nội dung hình tượng; dùng để rào đón, đưa đẩy, nối ý |
| Vai trò trong câu | Làm một thành phần (chủ ngữ, vị ngữ…) | Đứng độc lập được | Thường là thành phần phụ, tình thái |
| Ví dụ | chậm như rùa, một nắng hai sương | Tốt gỗ hơn tốt nước sơn; Ăn quả nhớ kẻ trồng cây | nói của đáng tội, chẳng giấu gì anh, nói tóm lại |
Mẹo thử nhanh: đọc cụm từ đó một mình xem đã thành một nhận định đúng sai được chưa. “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn” khẳng định một điều, ta đồng ý hay phản đối được, vậy là tục ngữ. “Chậm như rùa” chưa khẳng định gì cả, phải ghép vào câu “Nó làm bài chậm như rùa” mới đủ ý. Muốn đọc thêm về loại câu đúc kết kinh nghiệm, xem bài học về tục ngữ ở Ngữ văn 7.
Ranh giới đôi khi không gọn: có câu sách này gọi thành ngữ, sách kia gọi tục ngữ, nên cứ theo sách em đang học. Các tuyển tập thường gộp chung cả hai, như trang ca dao, thành ngữ khuyên chăm học.
Luyện tập: tìm và giải nghĩa thành ngữ (kèm đáp án)
Câu 1: Trong các cụm sau, cụm nào là thành ngữ, cụm nào là tục ngữ? “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”, “chậm như rùa”, “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, “một nắng hai sương”.
Đáp án: Thành ngữ: chậm như rùa, một nắng hai sương (mới là cụm từ, phải đặt vào câu mới đủ ý). Tục ngữ: Tốt gỗ hơn tốt nước sơn, Ăn quả nhớ kẻ trồng cây (đều là câu nêu một nhận định, lời khuyên).
Câu 2: Điền tiếp để có thành ngữ so sánh: nhanh như…, hiền như…, đông như…, khỏe như…
Đáp án: nhanh như chớp (hoặc như cắt); hiền như bụt (hoặc như đất); đông như kiến (hoặc như hội); khỏe như voi (hoặc như trâu). Một chỗ có thể có vài đáp án, miễn là cụm quen dùng.
Câu 3: Tìm thành ngữ trong câu thơ “Bõ chi cá chậu, chim lồng mà chơi!” và giải thích nghĩa.
Đáp án: Thành ngữ là cá chậu chim lồng. Nghĩa bóng: cảnh sống bị giam hãm, gò bó, mất tự do. Trong câu thơ, Từ Hải dùng nó để nói mình không muốn một mối quan hệ tù túng.
Câu 4: Trong câu ca dao “Nước non lận đận một mình, / Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay”, thành ngữ nào được dùng và giữ vai trò gì trong câu?
Đáp án: Thành ngữ lên thác xuống ghềnh (kiểu thành ngữ đối), chỉ cuộc sống vất vả, trải nhiều gian truân. Trong câu thứ hai, “thân cò” là chủ ngữ, thành ngữ nằm trong vị ngữ.
Câu 5: Thay cụm từ in nghiêng bằng một thành ngữ: “Bạn ấy làm gì cũng hăng hái lúc đầu rồi bỏ dở giữa chừng.”
Đáp án: “Bạn ấy làm gì cũng đầu voi đuôi chuột.” Cái đầu to của voi đi với cái đuôi bé xíu của chuột: mở màn rầm rộ, kết thúc chẳng ra sao.
Mấy câu hỏi quanh chuyện học thành ngữ
Thành ngữ là gì lớp 4 và lớp 7 có khác nhau không?
Bản chất không khác. Lớp 4 chủ yếu cho em nhận ra và dùng thành ngữ qua bài tập; lớp 7 mới nêu định nghĩa, đặc điểm và yêu cầu phân biệt với tục ngữ.
Thành ngữ khác tục ngữ ở điểm nào?
Thành ngữ là cụm từ, tục ngữ là câu. Cụm chữ đứng riêng mà đã nói trọn một kinh nghiệm thì là tục ngữ; phải ghép vào câu khác mới đủ nghĩa thì là thành ngữ. Vài ví dụ thành ngữ dùng hằng ngày: chân ướt chân ráo, nước đổ đầu vịt, mẹ tròn con vuông.
Có được sửa chữ trong thành ngữ khi viết văn không?
Thường là không, vì cấu tạo cố định. Nhà thơ đôi khi đảo chữ, như Hồ Xuân Hương viết “bảy nổi ba chìm”; bài làm của học sinh thì nên giữ dạng quen dùng.