Trường từ vựng là tập hợp những từ có ít nhất một nét chung về nghĩa, chẳng hạn mắt, mũi, tóc, bàn tay, đầu gối cùng thuộc trường “bộ phận cơ thể người”. Các từ trong một trường không cần cùng từ loại: cây bút, viết, nắn nót, nguệch ngoạc vẫn chung một trường “việc viết”. Đây là bài tiếng Việt quen thuộc ở Ngữ văn 8 và là công cụ hay dùng khi phân tích cách nhà văn chọn chữ.
| Khái niệm | Nhóm từ gom lại vì cùng chia sẻ một nét nghĩa chung |
| Thuộc | Phần từ vựng, nói về quan hệ nghĩa giữa các từ |
| Dấu hiệu nhận biết | Các từ cùng hướng về một phạm vi: sự vật, hoạt động, tính chất, cảm xúc… |
| Đặc điểm | Trường lớn chứa trường nhỏ; khác từ loại vẫn chung trường; một từ có thể thuộc nhiều trường |
| Học ở | Ngữ văn 8 (sách giáo khoa chương trình trước, tập một); dùng lại trong đọc hiểu văn bản |

“Trường” trong trường từ vựng là gì?
Chữ “trường” trong thuật ngữ này gần với chữ trường trong quảng trường, chiến trường: một khoảng, một vùng. Còn “từ vựng” là vốn từ của một thứ tiếng. Ghép lại, trường từ vựng là một “khoảng đất” trong vốn từ, nơi các từ đứng chung vì cùng mang một nét nghĩa.
Sách giáo khoa Ngữ văn 8 chương trình trước định nghĩa ngắn gọn: trường từ vựng là “tập hợp của những từ có ít nhất một nét chung về nghĩa”. Chữ quan trọng nhất là ít nhất một. Mắt và nhìn khác hẳn nhau, một là bộ phận, một là hoạt động, nhưng cùng chung nét “liên quan tới thị giác”, nên vẫn chung trường. Muốn gom từ, chỉ cần tìm ra nét chung ấy, không cần các từ giống nhau từ đầu đến cuối.
Khái niệm này nằm trong phần từ vựng, cạnh những bài về từ đồng nghĩa hoàn toàn và không hoàn toàn, từ trái nghĩa, từ nhiều nghĩa. Khác ở chỗ: những bài kia xét quan hệ giữa hai từ, còn trường từ vựng xét cả một chùm từ cùng lúc.
Trường từ vựng trong Trong lòng mẹ, Bánh trôi nước và Thu điếu
Đề đọc hiểu thường hỏi theo hai bước: tìm các từ cùng trường, rồi nói nhà văn dùng chùm từ ấy để làm gì. Ba ví dụ dưới đây đi theo đúng hai bước đó.
Bé Hồng áp vào lòng mẹ
Ở đoạn cuối đoạn trích Trong lòng mẹ của Nguyên Hồng, khi bé Hồng được ngồi lên xe, nằm trong lòng mẹ, các từ chỉ bộ phận cơ thể xuất hiện dày đặc: mặt, mắt, da, gò má, đùi, đầu, cánh tay, miệng. Chúng thuộc trường “bộ phận cơ thể người”. Đặt liền nhau, chùm từ ấy cho thấy em bé đang cảm nhận mẹ bằng cả thân thể, từ hơi ấm của làn da đến cái áp đùi, ngả đầu. Phần câu hỏi của bài có ở câu hỏi đọc hiểu đoạn Trong lòng mẹ.
Hai trường chồng lên nhau trong Bánh trôi nước
Thân em vừa trắng lại vừa tròn,
Bảy nổi ba chìm với nước non.
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn,
Mà em vẫn giữ tấm lòng son.
Đọc như bài vịnh cái bánh, ta thấy trường “làm bánh, luộc bánh”: trắng, tròn, nổi, chìm, rắn, nát, nặn. Đọc như lời người phụ nữ, những từ ấy lại thuộc trường “thân phận con người”: thân em, bảy nổi ba chìm, tấm lòng son. Hồ Xuân Hương chọn những từ đứng được ở cả hai trường, nên bài thơ có hai lớp nghĩa. Ai cần ôn kĩ bài thơ có thể xem bài soạn Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương.
Chiếc cần câu trong Thu điếu
Tựa gối buông cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.
Nguyễn Khuyến rải trường “câu cá” khắp bài: thuyền câu ở câu hai, rồi buông cần, cá, đớp ở hai câu cuối. Lạ là chùm từ ấy không dẫn đến một con cá nào được câu lên. Người ngồi câu mải nghĩ chuyện khác, tiếng cá đớp chỉ làm cái tĩnh của ao thu rõ thêm. Muốn đọc kĩ hơn về bài thơ, xem đọc hiểu bài thơ câu cá của Nguyễn Khuyến.
Bốn đặc điểm giúp nhận ra một trường từ vựng
- Trường lớn chứa trường nhỏ. Trường “động vật” có thể chia ra trường nhỏ về tên con vật (trâu, gà, chó), bộ phận (mõm, cánh, đuôi), hoạt động (gáy, sủa, phi).
- Khác từ loại vẫn chung trường. Trong trường “mưa” có danh từ mây, giọt, động từ rơi, đổ, tạnh, tính từ lất phất, ào ạt.
- Một từ có thể thuộc nhiều trường. Điều này xảy ra với từ nhiều nghĩa. Lạnh thuộc trường “nhiệt độ” (trời lạnh), trường “thái độ” (giọng lạnh), cả trường “màu sắc” (gam màu lạnh). Muốn hiểu vì sao một chữ gánh được nhiều nghĩa, đọc bài từ nhiều nghĩa và chuyện chuyển nghĩa.
- Từ có thể “chuyển trường” để tạo hình ảnh. Câu gió hát trên ngọn tre mượn từ hát của trường hoạt động con người đặt sang trường thiên nhiên. Đó chính là cơ chế của nhân hóa, ẩn dụ.
Bốn đặc điểm của trường từ vựng này cũng là bốn ý hay gặp trong đề kiểm tra. Muốn kiểm tra nhanh, cứ hỏi: các từ này cùng nói về chuyện gì? Nếu gọi được tên chung (cơ thể, nhà bếp, trường học, nỗi buồn) thì chúng đã lập thành một trường.
Trường từ vựng khác cấp độ khái quát nghĩa ra sao?
Ở cùng chương trình, học sinh còn học cấp độ khái quát của nghĩa từ ngữ. Hai bài này dễ nhầm vì đều gom từ thành nhóm.
| Tiêu chí | Trường từ vựng | Cấp độ khái quát nghĩa | Từ đồng nghĩa |
|---|---|---|---|
| Quan hệ giữa các từ | Chung ít nhất một nét nghĩa | Bao hàm: nghĩa rộng chứa nghĩa hẹp | Nghĩa giống hoặc gần giống |
| Từ loại | Có thể khác nhau | Thường cùng từ loại | Thường cùng từ loại |
| Ví dụ | mắt, nhìn, cận thị, long lanh | động vật > thú > voi | chết, mất, qua đời |
| Thay thế cho nhau | Không | Không | Được, tùy sắc thái |
Mẹo nhớ: cấp độ khái quát là cái thang trên dưới, trường từ vựng là một vòng tròn rộng mà các từ đứng ngang hàng, chung nhau một sợi nghĩa. Voi nằm dưới thú trên cái thang, nhưng voi, ngà, vòi, rống đứng chung một vòng tròn.
Luyện tập: bốn câu về trường từ vựng có đáp án
Câu 1: Gom các từ sau thành hai trường từ vựng và đặt tên cho mỗi trường: bảng đen, phấn, nồi, chảo, sĩ số, muôi, thớt, ngăn bàn.
Đáp án: Trường “lớp học”: bảng đen, phấn, sĩ số, ngăn bàn. Trường “đồ dùng nhà bếp”: nồi, chảo, muôi, thớt. Tên trường đặt khác đi vẫn được, miễn nêu đúng nét nghĩa chung.
Câu 2: Cho biết từ “ngọt” thuộc những trường từ vựng nào, mỗi trường kèm một ví dụ.
Đáp án tham khảo: Trường “vị giác”: chè ngọt. Trường “lời nói, thái độ”: nói ngọt. Trường “âm thanh”: tiếng đàn ngọt. Trường “độ sắc của lưỡi dao”: dao cắt ngọt. Ngọt thuộc nhiều trường vì đây là từ nhiều nghĩa.
Câu 3: Chỉ ra từ không cùng trường trong dãy: buồn, vui, lo âu, hờn dỗi, chạy nhảy, bồn chồn.
Đáp án: Chạy nhảy thuộc trường hoạt động cơ thể. Các từ còn lại cùng trường “trạng thái cảm xúc”.
Câu 4: Viết đoạn văn 3–4 câu tả buổi sáng ở chợ, dùng ít nhất năm từ cùng trường “âm thanh”.
Đáp án tham khảo: “Mới năm giờ, chợ đã ồn ào. Tiếng xe máy bình bịch chở rau vào cổng, tiếng dao chan chát trên thớt hàng thịt. Mấy bà hàng cá í ới gọi nhau, còn chú gà trong lồng thì gáy mãi không thôi.” Năm từ in đậm cùng trường âm thanh, tạo cảm giác chợ sớm náo nhiệt.
Trường từ vựng trong đề đọc hiểu và bài văn
Trường từ vựng là gì lớp 8?
Ở Ngữ văn 8 (chương trình trước), trường từ vựng là tập hợp các từ có ít nhất một nét chung về nghĩa. Bài học đi kèm bốn lưu ý: trường lớn chứa trường nhỏ, khác từ loại vẫn chung trường, một từ nhiều nghĩa thuộc nhiều trường, và từ có thể chuyển trường để tăng sức gợi.
Có ví dụ về trường từ vựng nào dễ nhớ?
Trường “trường học”: thầy cô, học sinh, bảng, phấn, giảng bài, kiểm tra. Trường “mùa thu”: lá vàng, heo may, se lạnh, hoa sữa, cốm. Thử tự lập một trường về chủ đề mình thích là cách nhớ nhanh nhất.
Tác dụng của trường từ vựng trong văn bản là gì?
Khi một chùm từ cùng trường được dùng dày, nó tô đậm một cảm giác hay một không khí: cái ấm áp, cái nghèo, cái tĩnh. Khi trả lời, hãy nêu tên trường, liệt kê từ, rồi nói chúng gợi ra điều gì về nhân vật hay cảnh vật.
Trường từ vựng có phải là từ đồng nghĩa không?
Không. Từ đồng nghĩa phải có nghĩa giống hoặc gần giống nhau, như siêng năng và chăm chỉ. Trong một trường, các từ chỉ cần chung một nét nghĩa, như mắt và nhìn, chúng không thay được cho nhau.