Ngữ pháp là hệ thống những phương thức và quy tắc dùng để cấu tạo từ, ghép từ thành cụm từ và thành câu trong một ngôn ngữ. Hiểu đơn giản, ngữ pháp là “luật chơi” quyết định câu nào nói được, câu nào nghe sai. Khi ai đó hỏi ngữ pháp tiếng Việt là gì, câu trả lời vẫn thế, chỉ khác ở chỗ tiếng Việt dựa nhiều vào trật tự từ và hư từ.
| Khái niệm | Hệ thống quy tắc cấu tạo từ và cấu tạo câu của một ngôn ngữ |
| Nghĩa thứ hai | Ngành học nghiên cứu các quy tắc ấy (ngữ pháp học) |
| Thuộc | Ngôn ngữ học, cạnh ngữ âm và từ vựng |
| Gốc từ | Hán Việt 語法: ngữ (lời nói) + pháp (phép tắc); tương ứng grammar, grammaire |

Ngữ pháp được định nghĩa ra sao?
Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê) giảng ngữ pháp là danh từ, với ba nét nghĩa gần nhau. Nét thứ nhất: hệ thống phương thức và quy tắc cấu tạo từ, cấu tạo câu của một ngôn ngữ. Nét thứ hai, nói tổng quát hơn: những quy tắc cần theo để nói và viết cho đúng, như khi ta chê một câu “sai ngữ pháp”. Nét thứ ba là cách nói tắt của ngữ pháp học.
Giới ngôn ngữ học thường tách hai chữ này cho rạch ròi. Ngữ pháp là bản thân các quy tắc, có sẵn trong ngôn ngữ dù ta có học hay không: một em bé bốn tuổi chưa biết chữ “chủ ngữ” vẫn nói đúng “con ăn cơm rồi”. Còn ngữ pháp học là ngành khoa học đi tìm, mô tả và gọi tên các quy tắc ấy.
Thuật ngữ này được dịch từ grammaire (tiếng Pháp), grammar (tiếng Anh), gốc xa là chữ Hi Lạp mang nghĩa nghệ thuật về con chữ. Chữ Hán Việt ngữ (語) là lời nói, pháp (法) là phép, khuôn phép: ngữ pháp là phép tắc của lời nói.
Hai phần của ngữ pháp: từ pháp và cú pháp
Theo cách chia truyền thống, ngữ pháp học có hai bộ phận.
- Từ pháp nghiên cứu từ: từ được cấu tạo thế nào (từ đơn, từ ghép, từ láy), từ biến đổi hình thái ra sao, từ thuộc loại nào (danh từ, động từ, tính từ…).
- Cú pháp nghiên cứu cách ghép từ thành cụm từ và câu: thành phần câu (chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ), kiểu câu (câu đơn, câu ghép), quan hệ giữa các vế.
Hai phần dựa vào nhau. Biết từ loại mà không biết đặt câu thì không nói được; đặt câu mà dùng sai từ loại thì câu lủng củng. Phần lớn bài thực hành tiếng Việt trong sách Ngữ văn từ lớp 6 đến lớp 9 chính là học từng mảnh của hai bộ phận này. Chẳng hạn, bài về thành phần chủ ngữ và cách tìm chủ ngữ thuộc phần cú pháp.
Nhận ra đặc điểm ngữ pháp tiếng Việt qua ba phương thức
Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập. Bài “Đặc điểm loại hình của tiếng Việt” trong Ngữ văn 11 chương trình cũ tóm lại vài nét chính; dưới đây là ba phương thức người học nên nắm.
Từ không biến đổi hình thái. Tiếng Anh nói I go, he goes, she went: cùng một động từ mà đổi dạng theo ngôi, theo thì. Tiếng Việt thì “tôi đi”, “anh ấy đi”, “hôm qua cô ấy đi”: chữ “đi” giữ nguyên.
Trật tự từ mang nghĩa. “Chó cắn mèo” và “mèo cắn chó” dùng đúng ba chữ, nghĩa trái ngược. “Ba con” và “con ba” cũng vậy. Đổi chỗ từ trong tiếng Việt là đổi nghĩa, hoặc làm câu thành vô nghĩa.
Hư từ gánh ý nghĩa ngữ pháp. Không có đuôi chỉ thì quá khứ, tiếng Việt dùng đã, đang, sẽ, rồi. Không có dạng số nhiều, ta thêm những, các, mấy. Quan hệ giữa các vế câu được nối bằng vì… nên, tuy… nhưng; bài giải thích quan hệ từ và cặp quan hệ từ có đủ các cặp này.
Ngữ điệu cũng tham gia: “Mai bạn về.” đọc xuôi giọng là câu kể, lên giọng ở cuối thì thành câu hỏi.
Ngữ pháp làm việc thế nào trong câu thơ, câu văn?
Thơ là nơi thấy rõ trật tự từ có sức nặng ra sao. Bà Huyện Thanh Quan viết trong Qua Đèo Ngang:
Lom khom dưới núi, tiều vài chú,
Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.
Câu văn xuôi bình thường sẽ là “vài chú tiều lom khom dưới núi, mấy nhà chợ lác đác bên sông”. Nhà thơ đảo vị ngữ lên trước, đẩy dáng “lom khom”, vẻ “lác đác” ra đầu câu, nên người đọc thấy trước tiên sự nhỏ bé, thưa thớt rồi mới thấy con người. Phép đảo ấy chỉ có tác dụng vì người đọc thuộc trật tự thông thường; ngữ pháp là cái nền để phép tu từ nổi lên. Bài phần soạn và đọc hiểu Qua Đèo Ngang phân tích thêm cái hồn của cảnh chiều ấy.
Ở chiều ngược lại, nhiều lỗi văn của học sinh là lỗi ngữ pháp chứ không phải lỗi ý. Câu quen thuộc nhất: “Qua bài thơ cho thấy tình yêu quê hương của tác giả.” Câu này thiếu chủ ngữ, vì “qua bài thơ” chỉ là trạng ngữ. Sửa bằng cách bỏ chữ “qua” (Bài thơ cho thấy…) hoặc thêm chủ ngữ (Qua bài thơ, ta thấy…).
Lỗi ngữ pháp, lỗi chính tả và lỗi dùng từ khác nhau ra sao?
| Loại lỗi | Sai ở đâu | Ví dụ |
|---|---|---|
| Lỗi ngữ pháp | Cấu tạo câu: thiếu thành phần, sai trật tự, dùng sai hư từ | Tuy trời mưa to và chúng tôi vẫn đi học. (cặp “tuy… nhưng” bị dùng sai) |
| Lỗi chính tả | Cách viết chữ: âm đầu, vần, dấu thanh | sản suất thay vì sản xuất |
| Lỗi dùng từ | Chọn từ sai nghĩa, sai sắc thái | Bạn ấy rất mạnh dạn trong khi ý muốn nói là mạnh mẽ về thể chất |
| Lỗi đánh máy | Gõ nhầm phím, thừa thiếu chữ | ngữ phpá |
Lỗi đánh máy dễ sửa nhất vì người viết biết đúng mà gõ nhầm; xem thêm bài phân biệt typo với các loại lỗi khác. Lỗi ngữ pháp khó thấy hơn, phải đọc lại cả câu mới phát hiện.
Luyện tập nhận diện và sửa lỗi ngữ pháp
Câu 1: Câu “Qua tác phẩm Lão Hạc đã cho ta thấy số phận người nông dân trước Cách mạng” sai ở đâu? Sửa lại.
Đáp án: Câu thiếu chủ ngữ, vì “qua tác phẩm Lão Hạc” là trạng ngữ. Cách sửa: “Tác phẩm Lão Hạc đã cho ta thấy…” hoặc “Qua tác phẩm Lão Hạc, nhà văn Nam Cao đã cho ta thấy…”.
Câu 2: Giải thích vì sao “Nam đánh Hùng” và “Hùng đánh Nam” khác nghĩa nhau.
Đáp án: Tiếng Việt không đổi dạng từ để đánh dấu ai làm, ai chịu. Vai trò được xác định bằng vị trí: từ đứng trước động từ là chủ thể, từ đứng sau là đối tượng. Đổi trật tự là đổi người đánh và người bị đánh.
Câu 3: Tìm hư từ chỉ thời gian trong câu “Em đã làm xong bài, bây giờ em đang đọc truyện, lát nữa em sẽ đi tắm” và cho biết mỗi từ biểu thị gì.
Đáp án: Đã chỉ việc xảy ra trước thời điểm nói, đang chỉ việc diễn ra lúc nói, sẽ chỉ việc xảy ra sau. Động từ “làm”, “đọc”, “đi” không đổi hình thức, toàn bộ ý nghĩa thời gian do ba hư từ đảm nhận.
Câu 4: Câu “Tuy nhà xa trường và bạn Lan chưa bao giờ đi muộn” mắc lỗi gì? Sửa lại.
Đáp án: Lỗi dùng sai cặp quan hệ từ: “tuy” phải đi với “nhưng” để chỉ quan hệ tương phản. Sửa: “Tuy nhà xa trường nhưng bạn Lan chưa bao giờ đi muộn.”
Một số thắc mắc về ngữ pháp
Ngữ pháp tiếng Việt là gì?
Là hệ thống quy tắc cấu tạo từ và câu của tiếng Việt. Vì là ngôn ngữ đơn lập, tiếng Việt diễn đạt quan hệ ngữ pháp chủ yếu bằng trật tự từ và hư từ, không bằng biến đổi hình thái của từ.
Ngữ pháp và ngữ pháp học khác nhau thế nào?
Ngữ pháp là các quy tắc có sẵn trong ngôn ngữ. Ngữ pháp học là ngành nghiên cứu, mô tả các quy tắc ấy. Trong lời nói hằng ngày, người ta thường dùng chung một chữ “ngữ pháp” cho cả hai.
Ngữ pháp tiếng Anh là gì?
Từ “ngữ pháp” trong tiếng Anh là grammar. Còn nếu hỏi về ngữ pháp của tiếng Anh, điểm khác lớn nhất so với tiếng Việt là từ tiếng Anh biến đổi hình thái theo thì, ngôi, số (go, goes, went; book, books).
Câu sai ngữ pháp là câu như thế nào?
Là câu vi phạm quy tắc cấu tạo câu: thiếu chủ ngữ hoặc vị ngữ, dùng sai cặp quan hệ từ, sắp xếp từ lộn xộn khiến nghĩa không rõ. Đọc to câu văn lên thường là cách nhanh nhất để nghe ra chỗ vấp.