Tóm tắt Chiếc lược ngà giúp em nắm nhanh cốt truyện truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng, viết năm 1966, kể về tình cha con của anh Sáu và bé Thu trong những năm chiến tranh. Truyện được học ở Bài 4 sách Ngữ văn 9 Cánh diều. Dưới đây là 8 mẫu tóm tắt từ ngắn đến chi tiết, có cả mẫu kể theo lời bé Thu và lời bác Ba.

Sơ đồ tư duy tóm tắt Chiếc lược ngà
Trước khi đọc các mẫu, em có thể nhìn sơ đồ để nhớ nhân vật và các sự việc chính theo đúng trình tự.

Tóm tắt Chiếc lược ngà ngắn nhất – mẫu 1
Bé Thu không chịu nhận người cha đi kháng chiến lâu ngày trở về vì vết thẹo trên mặt ông. Đúng lúc ông Sáu lên đường, bé mới gọi ba và đòi ba mua cây lược. Ông làm được chiếc lược ngà nhưng hi sinh, người bạn chiến đấu đã thay ông trao nó cho con gái.
Tóm tắt Chiếc lược ngà trong 5 câu – mẫu 2
Hoà bình lập lại, ông Sáu về thăm nhà sau tám năm xa cách nhưng con gái tám tuổi không nhận ông. Ba ngày phép, bé Thu cự tuyệt mọi sự săn sóc của cha, thậm chí bỏ sang nhà ngoại sau khi bị ông đánh. Biết vết thẹo trên mặt ba là do giặc gây ra, sáng hôm ông đi, bé ôm chầm lấy ba, khóc và xin một cây lược. Ở chiến khu, ông Sáu dồn hết thương nhớ vào chiếc lược ngà có khắc dòng chữ dành cho con. Ông hi sinh trước khi gặp lại con, bác Ba giữ lời hứa trao kỉ vật cho Thu khi cô đã trở thành giao liên.
Tóm tắt Chiếc lược ngà bằng một đoạn văn – mẫu 3
Anh Sáu thoát li đi kháng chiến khi đứa con gái duy nhất chưa đầy một tuổi. Năm 1954, anh cùng người bạn là bác Ba về thăm quê. Anh nôn nóng nhảy lên bờ gọi con, nhưng bé Thu tái mặt chạy đi, vì người đàn ông có vết thẹo dài trên má chẳng giống ba trong tấm ảnh. Suốt mấy ngày, bé lạnh lùng xa lánh, nhất quyết không gọi một tiếng ba; anh Sáu đau lòng, có lần nóng giận đánh con. Đến ngày chia tay, khi đã hiểu ra mọi chuyện, bé bỗng gọi ba thất thanh, ôm cổ ba thật chặt và dặn ba mua cho một cây lược. Trở lại rừng miền Đông, anh làm cây lược ngà với tất cả tình thương và nỗi ân hận. Anh hi sinh khi chưa kịp đưa lược cho con, nên nhờ bác Ba mang về. Bác Ba đã giữ trọn lời hứa ấy.
Tóm tắt Chiếc lược ngà theo bố cục 3 phần – mẫu 4
- Phần 1 – Ba ngày con không nhận cha: anh Sáu về phép, bé Thu sợ hãi, xa lánh, nói trổng, hất trứng cá; bị đánh, bé bỏ sang nhà ngoại.
- Phần 2 – Cuộc chia tay: được ngoại giải thích về vết thẹo, bé Thu nhận ra ba đúng lúc ba phải đi; bé thét gọi ba, ôm chặt ba và xin cây lược.
- Phần 3 – Chiếc lược ngà: ở chiến khu, anh Sáu làm cây lược ngà khắc chữ tặng con; anh hi sinh, trao lược cho bác Ba; nhiều năm sau bác trao lại cho Thu, nay là cô giao liên.
Tóm tắt chi tiết Chiếc lược ngà – mẫu 5
Đầu năm 1946, khi quê nhà rơi vào tay giặc, anh Sáu và bác Ba cùng rời gia đình đi kháng chiến. Lúc ấy con gái anh chưa đầy một tuổi. Những năm ở chiến trường miền Đông, anh chỉ được nhìn con qua tấm ảnh nhỏ vì đường rừng hiểm trở, chị Sáu không dám đưa con theo.
Hoà bình lập lại, hai người được về thăm nhà. Vừa thấy đứa bé tóc ngang vai mặc áo bông đỏ chơi dưới gốc xoài, anh Sáu đã nhảy khỏi xuồng, bước vội tới gọi con. Bé Thu tròn mắt nhìn, rồi tái mặt chạy đi kêu má, để lại người cha đứng sững với hai tay buông thõng.
Ba ngày phép, anh chẳng đi đâu, chỉ quanh quẩn bên con, nhưng càng gần thì bé càng đẩy ra. Má bắt gọi ba vào ăn cơm, bé chỉ nói trống không. Ở nhà một mình với ba, nồi cơm sôi to quá không chắt được nước, bé vẫn không chịu nhờ mà tự lấy vá múc ra từng chút. Trong bữa cơm, anh gắp miếng trứng cá to vào chén con, bé hất văng ra; anh giận, đánh vào mông con. Bé lặng lẽ gắp trứng bỏ lại chén, xuống xuồng khua dây lòi tói thật to rồi bơi sang nhà ngoại.
Sáng hôm sau, bà con đến tiễn anh Sáu rất đông. Bé Thu theo ngoại về, đứng ở góc nhà với vẻ mặt buồn rầu, nghĩ ngợi. Khi anh khẽ chào con, bé bỗng kêu lên tiếng ba như xé lòng, chạy tới ôm chặt cổ, hôn khắp mặt và cả vết thẹo của ba. Thì ra đêm trước, ngoại đã kể cho bé nghe vết thẹo ấy là do giặc bắn. Mọi người phải dỗ mãi bé mới chịu để ba đi, còn nhắc ba nhớ mua lược cho mình.
Trở lại chiến khu, anh Sáu day dứt vì đã đánh con. Một buổi chiều, anh tìm được khúc ngà, mừng như trẻ con được quà. Anh lấy vỏ đạn làm cưa, cặm cụi cưa từng chiếc răng lược và khắc lên sống lược dòng chữ tặng con gái. Cuối năm 1958, trong một trận càn của địch, anh trúng đạn máy bay. Không còn sức dặn dò, anh móc cây lược đưa cho bác Ba và nhìn bạn rất lâu; bác hứa sẽ trao tận tay cho cháu, anh mới yên lòng nhắm mắt. Nhiều năm sau, ở một trạm giao liên vùng Đồng Tháp Mười, bác Ba gặp Thu, nay đã là cô giao liên dũng cảm, và trao lại chiếc lược ngà. Giữa hai bác cháu nảy nở một tình cảm như tình cha con.
Tóm tắt Chiếc lược ngà theo lời bé Thu – mẫu 6
Từ nhỏ, tôi chỉ biết ba qua tấm hình ba chụp với má. Năm tôi tám tuổi, có một người đàn ông nhảy lên bến, gọi tên tôi, xưng là ba. Trên má ông có một vết thẹo dài đỏ ửng, chẳng giống ba trong hình chút nào, nên tôi sợ lắm, chạy đi kêu má. Mấy ngày sau đó, tôi nhất định không gọi ông là ba; nồi cơm sôi tôi cũng tự múc nước chứ không nhờ. Ông gắp trứng cá cho, tôi hất đi, bị ông đánh, tôi giận dỗi bơi xuồng sang ngoại. Đêm ấy, ngoại kể vết thẹo là do ba bị Tây bắn. Tôi nằm trằn trọc mãi. Sáng hôm sau về nhà thì ba đã sắp đi. Lúc ba nhìn tôi và khẽ chào, tôi không chịu nổi nữa, gọi ba thật to, chạy tới ôm ba, hôn cả vết thẹo và xin ba mua cho tôi một cây lược. Ba đi rồi không về nữa. Mãi nhiều năm sau, khi tôi đã đi làm giao liên, bác Ba mới tình cờ gặp lại tôi, trao cây lược ngà có khắc chữ ba tặng.
Tóm tắt Chiếc lược ngà theo lời bác Ba – mẫu 7
Tôi và anh Sáu là hàng xóm, cùng đi kháng chiến từ năm 1946. Hoà bình lập lại, chúng tôi về thăm nhà ít ngày. Tôi đã chứng kiến con bé Thu nhất định không nhận anh Sáu là ba, chỉ vì vết thẹo trên mặt anh, chứng kiến anh khổ tâm đến mức chỉ biết lắc đầu mà cười. Rồi đến lúc chia tay, con bé gọi ba một tiếng làm cả nhà rơi nước mắt, ôm ba không rời và dặn ba mua cây lược. Trở về rừng, anh Sáu ân hận vì lỡ tay đánh con. Tôi ngồi xem anh tỉ mẩn xẻ từng răng lược từ khúc ngà, thấy anh vui hẳn lên. Chẳng bao lâu, anh hi sinh vì đạn máy bay địch, trước khi đi chỉ kịp trao cây lược cho tôi. Tôi đã giữ lời hứa, mang cây lược đến tận tay Thu khi cô bé năm nào đã là một cô giao liên gan góc.
Tóm tắt Chiếc lược ngà để ôn thi vào 10 – mẫu 8
Truyện ngắn Chiếc lược ngà (Nguyễn Quang Sáng, 1966) kể về cha con anh Sáu trong hai cuộc kháng chiến. Xa nhà đã tám năm, anh Sáu mới được về phép, song con gái không chịu nhận cha vì vết thẹo trên mặt anh; chỉ khi anh sắp đi, bé mới bộc lộ tình yêu mãnh liệt và xin ba một cây lược. Ở chiến khu, anh làm cây lược ngà gửi gắm nỗi nhớ con, rồi hi sinh trước khi kịp trao, nhờ bác Ba thực hiện tâm nguyện. Truyện ca ngợi tình cha con tha thiết giữa những éo le của thời chiến và cho thấy những mất mát mà chiến tranh gây ra.
Kết luận
Dù chọn mẫu ngắn hay dài, bản tóm tắt Chiếc lược ngà cần giữ đủ các mốc: bé Thu không nhận cha, cuộc chia tay với tiếng gọi ba, anh Sáu làm lược rồi hi sinh, bác Ba trao lược cho Thu. Khi làm bài, em nên viết bằng lời của mình, ngắn gọn, đúng trình tự.
Xem thêm:
- Mở bài Chiếc lược ngà hay nhất – 13 mẫu trực tiếp, gián tiếp, nâng cao
- Kết bài Chiếc lược ngà hay nhất – 13 mẫu ngắn gọn, nâng cao, theo đề
- Tóm tắt Làng (Kim Lân) ngắn gọn, đầy đủ – 8 mẫu hay nhất
- Tóm tắt Ông lão bên chiếc cầu (Hê-minh-uê) ngắn gọn, đầy đủ – 8 mẫu hay nhất