Chiếc lược ngà là truyện ngắn nổi tiếng nhất của Nguyễn Quang Sáng, được học ở phần Thực hành đọc hiểu, Bài 4 “Truyện ngắn” sách Ngữ văn 9 Cánh diều (tập 1). Bài viết tổng hợp những điều cần nắm về tác giả, hoàn cảnh ra đời, tình huống truyện, cách chia bố cục, những giá trị về nội dung và nghệ thuật, kèm sơ đồ tư duy và hai mẫu tóm tắt ngắn.

Nội dung văn bản Chiếc lược ngà
Truyện được kể qua lời bác Ba, người đồng đội của anh Sáu. Mở đầu, bác thú nhận: “Mỗi lần nhìn thấy cây lược ngà nhỏ ấy là mỗi lần tôi băn khoăn và ngậm ngùi.” Rồi bác kể lại chuyến về thăm quê khi hoà bình vừa trở lại năm 1954. Anh Sáu đi kháng chiến khi con gái chưa đầy một tuổi, nay về thì bé Thu đã lên tám. Bé không chịu nhận anh, bởi trên má anh có một vết thẹo dài mà người đàn ông trong tấm hình ba chụp cùng má thì không có. Ba ngày phép, anh càng vỗ về thì con càng đẩy ra; bé nhất định không gọi ba, hất cái trứng cá anh gắp cho, bị đánh thì bỏ sang nhà ngoại.
Được ngoại giải thích về vết thẹo, sáng hôm anh Sáu lên đường, bé Thu bất ngờ thét gọi ba, ôm chặt lấy ba không cho đi và dặn ba mua cho một cây lược. Trở lại chiến khu miền Đông, anh Sáu tìm được khúc ngà, tự tay cưa từng chiếc răng lược và khắc dòng chữ “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”. Cuối năm 1958, anh hi sinh trong một trận càn, trước lúc mất chỉ kịp trao cây lược cho bác Ba. Đoạn tóm tắt cuối sách cho biết nhiều năm sau, bác Ba gặp Thu, khi ấy đã là cô giao liên dũng cảm, và trao lại kỉ vật của người cha.
Thông tin tác giả Nguyễn Quang Sáng
Nguyễn Quang Sáng (1932 – 2014), bút danh Nguyễn Sáng, quê ở Chợ Mới, An Giang (làng Mỹ Luông). Mới mười bốn tuổi, ông đã tham gia kháng chiến chống Pháp, làm liên lạc viên rồi công tác trong quân đội ở miền Tây Nam Bộ.
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, ông tập kết ra Bắc, làm việc ở Đài Tiếng nói Việt Nam, rồi Hội Nhà văn Việt Nam, và bắt đầu viết văn. Năm 1966, ông trở về chiến trường Nam Bộ về công tác sáng tác ở Hội Văn nghệ Giải phóng. Từ sau năm 1975, ông sống ở Thành phố Hồ Chí Minh, nhiều khoá giữ chức Tổng thư kí (Chủ tịch) Hội Nhà văn thành phố.
Ngòi bút của ông trải trên nhiều thể loại, từ truyện ngắn, tiểu thuyết đến kịch bản phim, và gần như dành trọn ngòi bút cho mảnh đất, con người Nam Bộ trong chiến tranh lẫn thời bình. Truyện của ông thường có cốt truyện chắc chắn, nhiều tình huống bất ngờ, ngôn ngữ đậm chất phương ngữ, nhân vật bộc trực mà giàu tình nghĩa. Tác phẩm chính: tiểu thuyết Đất lửa, Mùa gió chướng, Dòng sông thơ ấu; tập truyện Chiếc lược ngà, Người quê hương; kịch bản phim Cánh đồng hoang. Năm 2000, ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
Thông tin tác phẩm Chiếc lược ngà
Những mục dưới đây trả lời các câu hỏi thường gặp khi tìm hiểu truyện ngắn Chiếc lược ngà.
Chiếc lược ngà được sáng tác trong hoàn cảnh nào?
Truyện được viết năm 1966, khi Nguyễn Quang Sáng vừa trở lại chiến trường Nam Bộ thời kì kháng chiến chống Mỹ diễn ra ác liệt, và được in trong tập truyện ngắn cùng tên. Văn bản trong sách Cánh diều in theo cuốn 25 truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng do NXB Thông tin ấn hành năm 1990. Câu chuyện lấy bối cảnh những năm sau 1954, khi đất nước bị chia cắt, nhiều gia đình ly tán, người lính miền Nam tiếp tục bám trụ chiến đấu.
Thể loại, phương thức biểu đạt, ngôi kể
- Thể loại: truyện ngắn.
- Phương thức biểu đạt chính là kể, có đan xen miêu tả và biểu cảm.
- Ngôi kể: ngôi thứ nhất, người kể là bác Ba, bạn chiến đấu của anh Sáu và là người chứng kiến toàn bộ câu chuyện.
Tình huống truyện Chiếc lược ngà là gì?
Truyện có hai tình huống éo le nối tiếp nhau:
- Sau tám năm xa cách, anh Sáu về thăm nhà thì con gái không nhận cha; đến lúc bé nhận ra và bộc lộ tình yêu thương mãnh liệt thì cũng là lúc anh phải ra đi.
- Ở chiến khu, anh dồn hết tình thương vào việc làm cây lược ngà cho con, nhưng hi sinh khi chưa kịp trao, phải nhờ đồng đội mang về.
Tình huống thứ nhất làm nổi bật tình yêu cha của bé Thu, tình huống thứ hai khắc sâu tình yêu con của anh Sáu.
Bố cục Chiếc lược ngà có mấy phần?
Văn bản trong sách đánh số 4 đoạn; theo nội dung có thể chia làm 3 phần:
- Phần 1 (đoạn 1 và 2, đến chỗ chị Sáu không muốn bắt con về): suốt ba ngày phép của anh Sáu, con gái nhất quyết không chịu gọi ba.
- Phần 2 (đoạn 3, đến lúc bé Thu mếu máo dặn ba mua lược): bé Thu nhận ra cha và cuộc chia tay xúc động.
- Phần 3 (đoạn 4 và phần tóm tắt cuối): anh Sáu làm cây lược ngà, hi sinh ở chiến trường; bác Ba trao lược cho Thu.
Giá trị nội dung
Truyện ca ngợi tình cha con thắm thiết, thiêng liêng giữa anh Sáu và bé Thu giữa những ngang trái mà chiến tranh gây ra. Tình cảm ấy vượt qua xa cách, hiểu lầm và cả cái chết, được gửi gắm trọn vẹn vào chiếc lược ngà. Đồng thời, tác phẩm nói lên những mất mát, đau thương mà chiến tranh gây ra cho từng gia đình, gián tiếp ngợi ca sự hi sinh của người lính và sự tiếp nối của thế hệ sau.
Giá trị nghệ thuật
- Tình huống truyện éo le, nhiều bất ngờ nhưng vẫn tự nhiên, hợp lẽ.
- Chọn người kể chuyện là bác Ba, vừa chứng kiến vừa tham gia, giúp câu chuyện chân thực và giàu cảm xúc.
- Khắc hoạ diễn biến nội tâm tinh tế, đặc biệt là tâm lí trẻ thơ ở bé Thu.
- Ngôn ngữ mang đậm sắc thái Nam Bộ, lời thoại ngắn gọn, giàu kịch tính.
- Chi tiết chiếc lược ngà giàu sức biểu tượng, xuyên suốt câu chuyện.
Ý nghĩa nhan đề Chiếc lược ngà
Chiếc lược ngà là lời dặn của bé Thu lúc chia tay, là kỉ vật người cha làm bằng tất cả nỗi nhớ và niềm ân hận, là lời trăng trối không thành tiếng của anh Sáu trước khi hi sinh. Nhan đề vì thế là hình tượng trung tâm, tượng trưng cho tình cha con bất tử, thứ tình cảm mà theo người kể “không thể chết được” ngay cả giữa bom đạn.
Sơ đồ tư duy Chiếc lược ngà
Sơ đồ dưới đây gom các ý chính về tác giả, hoàn cảnh, thể loại, bố cục, nội dung và nghệ thuật để em ôn nhanh.

Tóm tắt Chiếc lược ngà
Dưới đây là hai cách tóm tắt văn bản Chiếc lược ngà với độ dài khác nhau để em chọn dùng.
Mẫu 1 – Tóm tắt Chiếc lược ngà ngắn nhất
Anh Sáu đi kháng chiến tám năm mới về thăm nhà, nhưng bé Thu không nhận cha vì vết thẹo trên mặt anh. Đến lúc anh lên đường, bé mới gọi ba, ôm chặt ba và xin một cây lược. Ở chiến khu, anh làm xong chiếc lược ngà thì ngã xuống trước ngày gặp lại con; bác Ba đã mang kỉ vật ấy về cho Thu.
Mẫu 2 – Tóm tắt Chiếc lược ngà đầy đủ
Năm 1954, anh Sáu cùng bác Ba về thăm quê. Thấy con gái đang chơi trước sân, anh vội nhảy lên bờ, gọi to tên con, nhưng bé Thu sợ hãi bỏ chạy. Ba ngày ở nhà, anh luôn tìm cách gần con, còn bé thì nói trống không, nhất định không gọi ba, kể cả khi nồi cơm sôi mà không chắt nổi nước. Trong bữa cơm, bé hất văng miếng trứng cá ba gắp, anh giận quá đánh con, bé bỏ sang nhà ngoại. Đêm ấy, ngoại giải thích vết thẹo là do giặc bắn. Sáng hôm sau, lúc anh chào từ biệt, bé Thu thét lên tiếng ba, nhảy lên ôm cổ, hôn khắp mặt ba và xin ba mua cho một cây lược. Về chiến khu, anh Sáu ân hận vì đã đánh con, tỉ mẩn làm cây lược từ khúc ngà và khắc chữ tặng con. Một trận càn cuối năm 1958 cướp đi mạng sống của anh; anh trao cây lược cho bác Ba trước khi nhắm mắt. Mãi về sau, bác Ba mới gặp lại Thu, lúc này là cô giao liên gan dạ, và trao lại kỉ vật cho cô.
Lời kết
Chiếc lược ngà là bài ca cảm động về tình cha con trong chiến tranh. Khi học, em cần nắm hai tình huống éo le, diễn biến tâm lí bé Thu, tình yêu con của anh Sáu và ý nghĩa biểu tượng của chiếc lược.
Xem thêm:
- Mở bài Chiếc lược ngà hay nhất – 13 mẫu trực tiếp, gián tiếp, nâng cao
- Kết bài Chiếc lược ngà hay nhất – 13 mẫu ngắn gọn, nâng cao, theo đề
- Làng (Kim Lân) – Ngữ văn 9: Tác giả, tác phẩm, bố cục, nội dung
- Ông lão bên chiếc cầu (Hê-minh-uê): tác giả, tác phẩm, bố cục