Tả cảnh ngụ tình là cách viết dùng cảnh vật làm nơi gửi nỗi lòng, tình cảm của con người: cảnh hiện lên trên trang giấy, còn tình nằm ở phía sau. Nhiều sách gọi là nghệ thuật hay bút pháp tả cảnh ngụ tình. Đây là thủ pháp quen thuộc của thơ cổ, nổi tiếng nhất qua tám câu cuối đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích.
| Khái niệm | Miêu tả cảnh để bộc lộ gián tiếp tâm trạng của nhân vật hoặc người viết |
| Nghĩa từng chữ | Tả cảnh: vẽ lại cảnh vật; ngụ: gửi vào; tình: tình cảm, tâm trạng |
| Thuộc | Bút pháp miêu tả, gắn với thơ trữ tình và truyện thơ trung đại |
| Dấu hiệu nhận biết | Cảnh mang màu cảm xúc; cảnh xuất hiện đúng lúc nhân vật cô đơn, lo âu; mỗi lớp cảnh ứng với một lớp tâm trạng |
| Ví dụ quen | Kiều ở lầu Ngưng Bích, Qua Đèo Ngang, Cảnh ngày xuân |

Tả cảnh ngụ tình: chữ “ngụ” là gửi
Chìa khóa của cụm từ nằm ở chữ ngụ (寓). Chữ này có nghĩa là ở nhờ, gửi mình vào một chỗ, rồi mở rộng thành gửi ý vào một thứ khác. Ta gặp nó trong ngụ cư (ở nhờ nơi khác), ngụ ngôn (lời gửi ý), ngụ ý. Vậy tả cảnh ngụ tình là tả cảnh để gửi tình vào đó.
Điều cần nắm là quan hệ chủ – phụ. Cảnh là phương tiện, tình mới là đích. Người viết không cốt cho ta biết bãi biển hôm ấy có mấy cánh buồm, mà muốn ta thấy nhân vật đang nhìn cảnh bằng đôi mắt như thế nào. Vì thế cảnh trong lối viết này thường không khách quan: nó bị tâm trạng “nhuộm màu”. Người đang buồn nhìn đâu cũng thấy héo hắt, người đang vui nhìn đâu cũng thấy tươi.
Chính Nguyễn Du có hai câu thơ thường được xem như lời tự bạch về cách tả cảnh của mình:
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?
Lối viết gián tiếp này hợp với văn chương trung đại, nơi người viết ít khi nói thẳng nỗi lòng riêng. Gửi nỗi buồn vào chiều tà, ngọn sóng, cánh hoa trôi là cách vừa kín đáo vừa thấm. Muốn ôn lại phương thức miêu tả nói chung, có thể đọc bài miêu tả trong văn và thơ.
Tả cảnh ngụ tình khác tức cảnh sinh tình
Học trò hay lẫn thủ pháp này với vài cách gọi gần âm, gần nghĩa. Bảng dưới đặt chúng cạnh nhau.
| Tiêu chí | Tả cảnh ngụ tình | Tức cảnh sinh tình | Tả cảnh thuần túy |
|---|---|---|---|
| Cái gì có trước | Tình có trước, chi phối cách chọn cảnh, nhìn cảnh | Cảnh có trước, gặp cảnh mới nảy cảm xúc | Chỉ có cảnh |
| Mục đích | Bộc lộ tâm trạng gián tiếp | Ghi lại cảm hứng chợt đến trước cảnh | Giúp người đọc hình dung cảnh |
| Dấu hiệu | Cảnh mang tính từ cảm xúc (rầu rầu, man mác) | Thường có lời kể “thấy… mà nhớ, mà thương” | Chi tiết khách quan: màu, hình, kích thước |
| Ví dụ | Tám câu “Buồn trông…” ở lầu Ngưng Bích | Bài thơ có nhan đề “Tức cảnh…” viết lúc ngắm cảnh | Đoạn văn tả cánh đồng lúa trong bài tập làm văn |
Trong thực tế hai lối đầu hay đan vào nhau: cảnh khơi tình, tình lại nhuộm cảnh. Khi viết bài, chỉ cần chỉ ra được cảnh nào mang tâm trạng nào là đủ, không nên cãi nhau quá lâu về tên gọi.
Đọc tám câu “Buồn trông” và cảnh đèo Ngang
Bốn bức tranh trước lầu Ngưng Bích
Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
Buồn trông ngọn nước mới sa,
Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Buồn trông nội cỏ rầu rầu,
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.
Bốn lần “buồn trông” mở ra bốn cảnh, và mỗi cảnh là một nỗi lòng của Kiều khi bị giam lỏng:
- Cánh buồm xa: thấp thoáng, mờ dần trong chiều tà, như niềm mong được trở về nhà cứ xa vời.
- Cánh hoa trôi: “man mác biết là về đâu”, chính là thân phận trôi nổi, không biết sẽ dạt về đâu của nàng.
- Nội cỏ: màu xanh không tươi mà “rầu rầu”, trải đến tận chân mây, gợi một tương lai mịt mù, không lối ra.
- Gió cuốn, sóng kêu: âm thanh dữ dội vây quanh ghế ngồi, báo trước những tai họa sắp ập đến.
Cảnh đi từ xa đến gần, từ màu nhạt đến âm thanh dồn dập, đúng theo nhịp nỗi buồn đặc dần thành sợ hãi. Có bản chép là “nội cỏ dàu dàu” và “mặt ghềnh”; bản quen dùng trong nhà trường chép “rầu rầu”, “mặt duềnh”. Bối cảnh và bố cục của cả đoạn có trong bài hoàn cảnh Kiều bị giam ở lầu Ngưng Bích.
Chiều tà trên đèo Ngang
Lom khom dưới núi, tiều vài chú,
Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.
Bà Huyện Thanh Quan chọn thời khắc “bóng xế tà”, lúc ngày sắp tắt. Người thì “vài chú”, chợ thì “mấy nhà”, tất cả nhỏ và thưa. Tiếng chim quốc, chim đa đa kêu được nghe thành “nhớ nước”, “thương nhà”. Cảnh vắng lặng ấy chứa nỗi cô đơn của người lữ khách, để câu kết “một mảnh tình riêng ta với ta” đến như một lời thở dài. Bài câu hỏi đọc hiểu Qua Đèo Ngang trong SGK có gợi ý trả lời cho từng câu thơ.
Ba dấu hiệu cho thấy cảnh đang chở tình
- Cảnh được gắn tính từ của người. Cỏ “rầu rầu”, hoa trôi “man mác”, sóng “kêu”: vật vô tri mà mang cảm xúc. Gặp những chữ này, gần như chắc chắn cảnh đang mang tâm trạng.
- Cảnh xuất hiện ở khoảnh khắc riêng. Chiều hôm, hoàng hôn, đêm trăng, mùa thu là thời điểm quen của nỗi nhớ và cô đơn. Cảnh lại thường đặt sau một biến cố: bị bán, bị giam, xa nhà.
- Thứ tự cảnh đi theo thứ tự cảm xúc. Thử đánh số các lớp cảnh rồi đặt cạnh từng sắc thái tâm trạng. Nếu chúng khớp nhau (nhớ, xót, lo, sợ), đó là cảnh được sắp xếp theo tình.
Ngược lại, nếu đoạn văn liệt kê cảnh với nhiều chi tiết đo đếm, không có từ chỉ cảm xúc, không gắn với tâm trạng ai, thì đó chỉ là tả cảnh. Thủ pháp này luôn đi cùng một chủ thể đang có nỗi niềm, xem thêm bài trữ tình và chủ thể trữ tình.
Thực hành tìm tình trong cảnh
Câu 1: Trong câu “Hoa trôi man mác biết là về đâu?”, hình ảnh nào gửi gắm tâm trạng của Kiều?
Đáp án: Hình ảnh cánh hoa trôi trên dòng nước. Hoa là hình ảnh quen chỉ người con gái; hoa trôi không biết về đâu gợi thân phận trôi nổi, bấp bênh của Kiều sau khi bán mình. Từ láy “man mác” làm nỗi buồn lan rộng, không có điểm dừng.
Câu 2: Vì sao Nguyễn Du lặp bốn lần cụm “buồn trông” ở đầu các câu lục?
Đáp án: Điệp ngữ tạo nhịp như những đợt sóng lòng dồn dập. Mỗi lần “buồn trông” mở một bức tranh mới, nỗi buồn tăng dần từ nhớ nhà đến lo sợ. Nó cũng nhắc người đọc rằng mọi cảnh đều được nhìn qua đôi mắt buồn của Kiều.
Câu 3: Đoạn sau có phải tả cảnh ngụ tình không: “Sân trường rộng chừng hai trăm mét vuông, có bốn cây bàng, giữa sân là cột cờ sơn trắng”?
Đáp án: Không. Đoạn văn chỉ đưa thông tin khách quan về kích thước, số lượng, màu sắc; không có từ ngữ cảm xúc, không gắn với tâm trạng của ai. Đây là tả cảnh thuần túy.
Câu 4: Viết lại câu văn ở câu 3 theo lối tả cảnh ngụ tình, cho nhân vật là một học sinh cuối cấp sắp ra trường.
Đáp án tham khảo: “Sân trường chiều nay rộng thênh thang đến lạ. Bốn cây bàng đứng lặng, mấy chiếc lá đỏ rơi chậm như không nỡ chạm đất, còn lá cờ trên cột thì cứ bịn rịn phất mãi về phía cổng.” Sân “rộng thênh thang”, lá “không nỡ”, cờ “bịn rịn” đều mang nỗi lưu luyến của người sắp chia tay mái trường.
Gửi tình vào cảnh khi làm bài phân tích
Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình có phải là biện pháp tu từ không?
Không hẳn. Tả cảnh ngụ tình là một bút pháp, một cách tổ chức hình ảnh trong cả đoạn hay cả bài. Bên trong nó, nhà thơ có thể dùng nhiều biện pháp tu từ như nhân hóa, ẩn dụ, điệp ngữ, từ láy. Khi phân tích nên gọi tên bút pháp trước, rồi chỉ ra các biện pháp giúp bút pháp ấy hiệu quả.
Tả cảnh ngụ tình có tác dụng gì?
Nó giúp tâm trạng hiện lên cụ thể, có hình, có màu, có âm thanh, dễ chạm vào người đọc hơn lời kể trực tiếp. Nó cũng giữ được vẻ kín đáo: nhân vật không cần than thở, cảnh đã nói thay.
Văn học hiện đại có còn dùng tả cảnh ngụ tình không?
Có. Thơ mới, truyện ngắn trữ tình và cả văn của học sinh đều dùng, chỉ là cảnh gần đời thường hơn: một sân ga, một con phố, một chiều mưa. Cách nhận ra vẫn như cũ: tìm từ ngữ cảm xúc gắn vào cảnh vật.
Tả cảnh ngụ tình là biện pháp gì trong đề đọc hiểu?
Đề thường xếp nó vào “bút pháp nghệ thuật” hoặc “thủ pháp miêu tả”. Viết câu trả lời theo ba ý là đủ: cảnh được tả là gì, cảnh ấy mang tâm trạng gì, và nhờ đâu ta nhận ra, ví dụ nhờ chữ “rầu rầu” khiến cả cánh đồng cỏ như cũng đang buồn với Kiều.