Soạn bài Khóc Dương Khuê (Nguyễn Khuyến) theo sách Ngữ văn 9 Cánh diều tập 1, Bài 1 “Thơ và thơ song thất lục bát”. Bài soạn trả lời phần Chuẩn bị, 5 câu hỏi trong khi đọc và 7 câu hỏi cuối bài (trang 15–18), kèm toàn văn bài thơ và giải thích các điển cố khó để em hiểu vì sao đây là một trong những bài thơ khóc bạn cảm động nhất của văn học Việt Nam.
Chuẩn bị đọc bài thơ Khóc Dương Khuê (trang 15)
Phần Chuẩn bị yêu cầu em xem lại kiến thức về thơ song thất lục bát, đọc trước văn bản và tìm hiểu về Nguyễn Khuyến, Dương Khuê.

Những điều cần chú ý khi đọc thơ song thất lục bát
- Câu mở đầu: bài thơ bắt đầu bằng câu song thất hay cặp lục bát? (Khóc Dương Khuê mở đầu bằng một cặp lục bát.)
- Chủ đề, bố cục: xác định cảm xúc chủ đạo và mạch cảm xúc chi phối các phần của bài thơ, quan hệ giữa các câu, các khổ.
- Nghệ thuật: chú ý nhịp điệu (câu bảy chữ thường ngắt 3/4), cách gieo vần, cách dùng từ ngữ và biện pháp tu từ để bộc lộ tình cảm.
Tìm hiểu nhà thơ Nguyễn Khuyến
- Nguyễn Khuyến (1835 – 1909), hiệu Quế Sơn, tên lúc nhỏ là Nguyễn Thắng. Ông sinh ở quê ngoại, lớn lên và sống chủ yếu ở quê nội làng Và, xã Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam (cũ).
- Năm 1864 ông đỗ Giải nguyên thi Hương; năm 1871 đỗ đầu cả thi Hội và thi Đình nên được gọi là Tam nguyên Yên Đổ.
- Ông làm quan hơn mười năm rồi cáo quan về quê (1884), sống thanh bạch, giữ cốt cách thanh cao, không hợp tác với chính quyền thực dân.
- Sáng tác gồm cả chữ Hán và chữ Nôm, hiện còn khoảng 800 bài thơ, văn, câu đối. Ông nổi tiếng với thơ viết về làng quê (chùm thơ thu), thơ trào phúng và những bài thơ về tình bạn như Bạn đến chơi nhà. Đọc thêm các bài thơ khác trong tuyển tập thơ Nguyễn Khuyến.
Tìm hiểu Dương Khuê và hoàn cảnh ra đời bài thơ
- Dương Khuê (1839 – 1902), hiệu Vân Trì, người làng Vân Đình, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội). Năm 1864 ông đỗ cử nhân cùng khoa với Nguyễn Khuyến, năm 1868 đỗ tiến sĩ, làm quan đến Tổng đốc Nam Định – Ninh Bình; ông để lại tập thơ Vân Trì thi thảo và một số bài ca trù.
- Hai người là bạn đồng khoa, kém nhau bốn tuổi, gắn bó thân thiết suốt mấy chục năm.
- Năm 1902, nghe tin Dương Khuê mất, Nguyễn Khuyến làm bài thơ viếng bạn. Bài thơ có bản chữ Hán nhan đề Vãn đồng niên Vân Đình tiến sĩ Dương thượng thư; bản tiếng Việt Khóc Dương Khuê (do chính tác giả chuyển dịch) phổ biến rộng rãi hơn.
Văn bản bài thơ Khóc Dương Khuê (Nguyễn Khuyến)
Bài thơ gồm 38 dòng, viết theo thể song thất lục bát. Văn bản dưới đây theo bản in trong SGK được các trang học tập phổ biến chép lại.
KHÓC DƯƠNG KHUÊ – Nguyễn Khuyến
Bác Dương thôi đã thôi rồi,
Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta.
Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước,
Vẫn sớm hôm tôi bác cùng nhau;
Kính yêu từ trước đến sau,
Trong khi gặp gỡ khác đâu duyên trời?
Cũng có lúc chơi nơi dặm khách,
Tiếng suối nghe róc rách lưng đèo;
Có khi từng gác cheo leo,
Thú vui con hát lựa chiều cầm xoang.
Cũng có lúc rượu ngon cùng nhắp,
Chén quỳnh tương ăm ắp bầu xuân;
Có khi bàn soạn câu văn,
Biết bao đông bích, điển phần trước sau.
Buổi dương cửu cùng nhau hoạn nạn,
Phận đẩu thăng chẳng dám tham trời;
Bác già, tôi cũng già rồi,
Biết thôi, thôi thế thì thôi mới là!
Muốn đi lại tuổi già thêm nhác,
Trước ba năm gặp bác một lần;
Cầm tay hỏi hết xa gần,
Mừng rằng bác vẫn tinh thần chưa can.
Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác,
Tôi lại đau trước bác mấy ngày;
Làm sao bác vội về ngay,
Chợt nghe, tôi bỗng chân tay rụng rời.
Ai chẳng biết chán đời là phải,
Sao vội vàng đã mải lên tiên;
Rượu ngon không có bạn hiền,
Không mua không phải không tiền không mua.
Câu thơ nghĩ đắn đo không viết,
Viết đưa ai, ai biết mà đưa;
Giường kia treo cũng hững hờ,
Đàn kia gảy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn.
Bác chẳng ở, dẫu van chẳng ở,
Tôi tuy thương, lấy nhớ làm thương;
Tuổi già hạt lệ như sương,
Hơi đâu chuốc lấy hai hàng chứa chan!
Một số bản chép khác đôi chữ, chẳng hạn “Giường kia treo những hững hờ” hay “Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan!”; ý thơ không thay đổi.
Giải thích một số từ ngữ, điển cố khó
- Đăng khoa: thi đỗ.
- Cầm xoang: đàn và hát; “con hát” chỉ người hát ả đào (ca trù).
- Quỳnh tương: rượu ngon.
- Đông bích, điển phần: chỉ sách vở, việc đọc sách, tra cứu cùng nhau.
- Dương cửu: vận hạn, ý nói thời buổi gian nan của đất nước.
- Đẩu thăng (đấu, thăng): đồ đong lường nhỏ, ý nói phận nhỏ bé, không dám mong cầu công danh, bổng lộc.
- Chưa can: chưa hề gì, vẫn còn khỏe mạnh.
- Giường treo: điển Trần Phồn đời Hậu Hán dành riêng một chiếc giường cho bạn, bạn đến thì hạ xuống, bạn về lại treo lên.
- Đàn kia: điển Bá Nha – Chung Tử Kì; Chung Tử Kì mất, Bá Nha đập đàn vì không còn người tri âm.
Trả lời câu hỏi trong khi đọc Khóc Dương Khuê (trang 16–18)
Các câu hỏi dưới đây nằm ở ô bên lề văn bản, giúp em theo dõi mạch cảm xúc của bài thơ trong khi đọc.
Câu 1: Chú ý cách sử dụng từ ngữ thể hiện tình cảm của Nguyễn Khuyến (trang 16)
Trả lời:
- “Thôi đã thôi rồi”: từ “thôi” lặp lại như tiếng thở dài, vừa là cách nói giảm (thay cho “chết”, “mất”) vừa diễn tả sự hụt hẫng, không muốn tin bạn đã ra đi.
- Cách xưng “bác”: vừa kính trọng vừa thân mật, như đang trò chuyện trực tiếp với bạn.
- “Nước mây man mác”: không gian mênh mông, xa cách như ranh giới giữa người còn và người mất.
- “Ngậm ngùi lòng ta”: nỗi xót thương lặng lẽ mà thấm sâu.
Câu 2: Nhà thơ nhắc lại những kỉ niệm gì với bạn? Theo trình tự nào? (trang 16)
Trả lời:
Nhà thơ nhắc lại các kỉ niệm: từ thuở cùng thi đỗ, sớm hôm gắn bó, kính yêu nhau như duyên trời định; cùng đi chơi xa, nghe suối chảy lưng đèo; cùng lên lầu cao nghe hát ả đào; cùng nhắp rượu ngon; cùng bàn văn, tra cứu sách vở; cùng chịu hoạn nạn trong buổi đất nước gian nan; cùng già và biết dừng lại; lần gặp nhau cuối cùng cách đó ba năm. Các kỉ niệm được kể theo trình tự thời gian, từ lúc trẻ mới đỗ đạt đến khi tuổi già và lần gặp sau cùng.
Câu 3: Nỗi đau mất bạn của tác giả được thể hiện như thế nào? (trang 17)
Trả lời:
- Nhà thơ so sánh tuổi tác, sức khỏe: mình hơn tuổi bạn, lại ốm trước bạn, vậy mà bạn đi trước – một nghịch lí khiến nỗi đau càng xót xa.
- Câu “Chợt nghe, tôi bỗng chân tay rụng rời” diễn tả sự bàng hoàng, bủn rủn khi tin dữ đến bất ngờ.
- Lời trách “Sao vội vàng đã mải lên tiên” thực chất là lời thương tiếc, không đành lòng.
- Mất bạn, mọi thú vui đều mất ý nghĩa: rượu ngon không muốn mua, câu thơ viết ra không biết đưa ai.
Câu 4: Nhà thơ nhắc đến giường treo và đàn kia để biểu thị điều gì? (trang 17)
Trả lời:
Hai hình ảnh gắn với hai điển tích về tình bạn tri âm, tri kỉ: chiếc giường Trần Phồn dành riêng cho bạn và cây đàn Bá Nha không gảy nữa khi Chung Tử Kì mất. Qua đó, Nguyễn Khuyến khẳng định Dương Khuê là người bạn tri kỉ duy nhất của mình. Nay bạn mất, giường vẫn treo đó mà thành “hững hờ”, tiếng đàn gảy lên cũng “ngẩn ngơ” vì không còn người thưởng thức – nỗi trống vắng, cô đơn thấm vào cả đồ vật.
Câu 5: Nhà thơ đã tự an ủi mình thế nào sau khi bạn mất? (trang 18)
Trả lời:
Bốn dòng cuối, nhà thơ tự nhủ: bạn đã quyết đi thì van nài cũng không ở lại, mình thương bạn thì lấy nỗi nhớ để thay cho niềm thương; tuổi già nước mắt hiếm hoi như giọt sương, cần gì phải khóc cho đầm đìa. Lời an ủi nghe như cố tỏ ra bình thản, nhưng thực chất lại cho thấy nỗi đau lặng sâu hơn: người già khóc không thành nước mắt, nỗi thương nhớ bạn sẽ còn mãi.
Trả lời câu hỏi cuối bài Khóc Dương Khuê (trang 18)
Bảy câu hỏi cuối bài đi từ đặc điểm thể thơ, bố cục đến phân tích từng đoạn, biện pháp tu từ và bài học về tình bạn.
Câu 1: Chỉ ra đặc điểm của thể thơ song thất lục bát qua bài Khóc Dương Khuê (trang 18)
Trả lời:
| Đặc điểm | Biểu hiện trong bài thơ |
|---|---|
| Số câu, cách kết hợp | 38 dòng: mở đầu bằng một cặp lục bát (dòng 1–2), sau đó là 9 khổ, mỗi khổ gồm hai câu bảy chữ (song thất) tiếp theo một cặp sáu – tám (lục bát). |
| Thanh điệu câu thất | Chú ý tiếng 3, 5, 7. Câu thất thứ nhất theo mô hình trắc – bằng – trắc (thuở – khoa – trước); câu thất thứ hai theo bằng – trắc – bằng (hôm – bác – nhau). |
| Gieo vần | Có cả vần trắc và vần bằng, vừa vần lưng vừa vần chân. Ví dụ dòng 6–10: “trời” vần với “nơi”; “khách” (trắc) vần với “rách”; “đèo” vần với “leo”; “leo” vần với “chiều”. |
| Ngắt nhịp | Câu thất thường ngắt 3/4: “Nhớ từ thuở / đăng khoa ngày trước”; câu lục bát ngắt nhịp chẵn như thơ lục bát. |
| Hiệu quả | Nhịp thơ trầm buồn, dìu dặt như lời than, lời kể, rất hợp để giãi bày tâm trạng thương nhớ. |
Câu 2: Sự kiện tạo cảm xúc, bố cục và ý chính từng phần (trang 18)
Sự kiện tạo ra nguồn cảm xúc để Nguyễn Khuyến viết bài thơ là gì? Sự kiện ấy chi phối bố cục của bài thơ như thế nào? Cho biết ý chính của mỗi phần theo bố cục đó.
Trả lời:
Sự kiện: Dương Khuê – người bạn đồng khoa, tri kỉ của Nguyễn Khuyến – qua đời (năm 1902).
Sự kiện chi phối bố cục: bố cục bài thơ đi theo mạch cảm xúc của người nghe tin bạn mất: bàng hoàng đau đớn → hồi tưởng quá khứ → trở về thực tại trống vắng.
- Phần 1 (dòng 1–2): nỗi đau đột ngột khi hay tin bạn mất.
- Phần 2 (dòng 3–22): hồi tưởng những kỉ niệm gắn bó suốt mấy chục năm.
- Phần 3 (dòng 23–38): nỗi đau, sự trống vắng khi trở lại thực tại và lời tự an ủi.

Câu 3: Tình cảm của Nguyễn Khuyến trong hai dòng thơ đầu khi nghe tin bạn mất (trang 18)
Trả lời:
“Bác Dương thôi đã thôi rồi” là một tiếng kêu thảng thốt. Cách gọi “bác Dương” thân mật như bạn còn ngay trước mặt. Từ “thôi” lặp lại hai lần, kết hợp với “đã”, “rồi”, vừa là lối nói giảm, nói tránh nhẹ nhàng về cái chết, vừa như tiếng nấc nghẹn ngào, khẳng định một sự mất mát không thể cứu vãn. Câu thơ thứ hai mở ra không gian “nước mây man mác”: nước trôi, mây bay, mênh mông mà xa cách, gợi cảnh âm dương đôi ngả. Nỗi buồn ấy thấm vào lòng người thành “ngậm ngùi” – xót thương lặng lẽ, không ồn ào mà sâu kín. Chỉ hai câu thơ, tình cảm kính trọng, thân thiết và nỗi đau mất bạn đã hiện lên trọn vẹn.
Câu 4: Những kỉ niệm về tình bạn trong đoạn từ dòng 3 đến dòng 22 (trang 18)
Những kỉ niệm nào về tình bạn đã được tác giả hồi tưởng, hồi tưởng như thế nào và theo trình tự nào?
Trả lời:
Các kỉ niệm:
- Từ thuở cùng đỗ đạt, hai người sớm hôm bên nhau, kính yêu nhau như có duyên trời.
- Những thú chơi tao nhã: đi xa ngắm cảnh, nghe suối reo lưng đèo; lên lầu cao nghe hát, thưởng đàn; cùng nhắp rượu ngon; cùng bàn văn, đọc sách.
- Cùng trải qua thời buổi đất nước gian nan, cùng giữ phận, không màng danh lợi; về già cùng hiểu lẽ “biết thôi”.
- Lần gặp cuối cách ba năm: cầm tay hỏi han, mừng vì bạn còn khỏe.
Cách hồi tưởng: dùng điệp cấu trúc “Cũng có lúc… / Có khi…” và phép liệt kê làm các kỉ niệm hiện lên liên tiếp, dồn dập như dòng kí ức tuôn trào; giọng thơ nhẹ nhàng, có chút vui của những ngày tươi đẹp, rồi chùng xuống khi nói đến hoạn nạn, tuổi già.
Trình tự: theo thời gian, từ lúc trẻ mới đỗ đạt → những năm làm quan, chơi bời tao nhã → thời thế đổi thay → tuổi già → lần gặp sau cùng. Trình tự ấy cho thấy tình bạn bền chặt suốt cả cuộc đời.
Câu 5: Tâm trạng của nhà thơ trong đoạn từ dòng 23 đến hết (trang 18)
Trả lời:
- Bàng hoàng, bất ngờ: người hơn tuổi, ốm trước lại còn, người ít tuổi lại ra đi; tin dữ khiến nhà thơ “chân tay rụng rời”.
- Trách móc mà thương: “Sao vội vàng đã mải lên tiên” – lời trách của người không nỡ để bạn ra đi.
- Trống vắng, cô đơn: rượu ngon không có bạn hiền thì không mua; câu thơ không có người đọc thì không viết; giường treo hững hờ, tiếng đàn ngẩn ngơ. Câu thơ “Không mua không phải không tiền không mua” lặp bốn chữ “không” như nhấn mạnh sự trống rỗng tuyệt đối.
- Tự an ủi mà càng đau: bốn câu cuối cố kìm nén nước mắt, nhưng chính sự kìm nén ấy cho thấy nỗi đau đã thấm vào tận đáy lòng người già.
Câu 6: Tác dụng của một số biện pháp tu từ nổi bật trong bài (trang 18)
Trả lời:
- Nói giảm, nói tránh (“thôi đã thôi rồi”, “về ngay”, “lên tiên”): làm nhẹ đi sự nặng nề của cái chết, thể hiện sự trân trọng người đã khuất và nỗi đau cố nén.
- Điệp cấu trúc, liệt kê (“Cũng có lúc… / Có khi…”): tái hiện dồn dập những kỉ niệm đẹp, cho thấy tình bạn gắn bó ở mọi khía cạnh đời sống.
- Điệp từ (“không” trong câu “Không mua không phải không tiền không mua”): nhấn mạnh sự trống vắng, mọi thú vui trở nên vô nghĩa khi không còn bạn.
- Câu hỏi tu từ (“Trong khi gặp gỡ khác đâu duyên trời?”, “Làm sao bác vội về ngay”): bộc lộ niềm tự hào về tình bạn và nỗi ngỡ ngàng, không đành lòng.
- Điển cố (giường treo, đàn): khẳng định tình tri âm, tri kỉ và diễn tả nỗi cô đơn một cách hàm súc.
Câu 7: Bài thơ giúp em có thêm nhận thức gì về tình bạn trong cuộc sống? (trang 18)
Trả lời:
Bài thơ cho em hiểu rằng một tình bạn đẹp không cần những điều lớn lao mà được vun đắp từ những ngày tháng sẻ chia: cùng vui, cùng học, cùng vượt khó. Người bạn tri kỉ là người hiểu ta đến mức khi họ mất đi, những niềm vui quen thuộc cũng trở nên vô nghĩa. Vì vậy, em cần trân trọng những người bạn đang ở bên mình, chân thành và thủy chung với bạn, hỏi han, gặp gỡ khi còn có thể, để không phải tiếc nuối về sau.
Kết luận
Soạn bài Khóc Dương Khuê Cánh diều, em cần nắm được sự kiện tạo cảm xúc (Dương Khuê qua đời), bố cục ba phần theo mạch cảm xúc, những kỉ niệm tình bạn, tâm trạng đau đớn, trống vắng của nhà thơ và đặc điểm của thể song thất lục bát. Khi trả lời, hãy dẫn đúng câu thơ và giải thích được các điển cố giường treo, cây đàn.
Xem thêm: