Tết là ngày lễ lớn hằng năm theo truyền thống, thường có cúng lễ, sum họp, vui chơi; khi viết hoa và đứng một mình, Tết là cách nói tắt của Tết Nguyên Đán. Vậy ngày Tết là gì, một năm có mấy cái tết? Người Việt có cả một chuỗi tết rải theo lịch âm, từ rằm tháng Giêng đến tháng Chạp. Bài này đi từ chữ tết đến từng dịp ấy.
| Nghĩa | Ngày lễ lớn theo truyền thống; viết hoa là Tết Nguyên Đán |
| Gốc | Đọc theo lối Việt của chữ Hán 節 (tiết: đốt, quãng chia thời gian) |
| Thời điểm | Rải trong năm, phần lớn tính theo âm lịch |
| Nghĩa khác | Động từ: biếu quà dịp tết; đan bện (tết tóc) |

Chữ tết vốn là chữ tiết
Trong chữ Nôm, tiếng tết được ghi bằng chữ 節, chính là chữ tiết trong Hán Việt. Thiều Chửu giảng chữ này trước hết là đốt tre, đốt xương; rồi mở ra nghĩa đoạn, quãng; rồi đến thời tiết: một năm chia làm 24 tiết như lập xuân, xuân phân. Tết, như vậy, là những “đốt” đánh dấu chỗ trời đất chuyển mùa, nơi người ta dừng lại làm lễ. Đọc mãi theo giọng Việt, tiết thành tết. Tên đầy đủ của Tết Cả, nếu đọc đúng âm Hán Việt, là Tiết Nguyên Đán.
Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê) ghi tết có ba nghĩa:
- Danh từ: ngày lễ lớn hằng năm, như tết Hàn thực, tết Trung thu. Viết hoa và đứng riêng thì là Tết Nguyên Đán: gói bánh chưng ngày Tết.
- Động từ (khẩu ngữ): biếu quà nhân dịp tết: Cuối tuần này hai vợ chồng về quê tết ông bà ngoại.
- Động từ: đan, bện nhiều sợi lại: tết tóc đuôi sam, con cào cào tết bằng lá dừa. Nghĩa này chỉ trùng âm, không dính gì đến lễ.
Một lỗi hay gặp liên quan đến chữ này là viết “tết niên” thay cho tất niên (cuối năm); cách phân biệt có trong bài tất niên hay tết niên mới đúng.
Vì sao người Việt có nhiều tết đến thế?
Người Việt sống bằng nghề lúa nước, nên cái lịch trong đầu ông cha là lịch của mùa vụ: lúc gieo, lúc cấy, lúc gặt, lúc nghỉ. Mỗi lần thời tiết đổi, cây trồng sang một giai đoạn mới, người ta làm lễ để tạ trời đất, cúng tổ tiên và cầu cho vụ tới. Các tết vì thế bám theo âm lịch và tiết khí, rơi vào những ngày đặc biệt như mồng một, mồng năm, rằm.
Phần lễ đi cùng phần hội. Có tết để nhớ người đã khuất, có tết để trừ dịch bệnh lúc giao mùa, có tết dành cho trẻ con. Nhiều tết mang tên Hán và có mặt ở cả các nước Á Đông; khi về đây, chúng được Việt hóa bằng món ăn và cách cúng riêng, như bánh trôi bánh chay ngày Hàn thực hay rượu nếp ngày Đoan ngọ.
Các tết trong năm theo lịch âm
| Tên tết | Ngày | Nét chính |
|---|---|---|
| Tết Nguyên Đán (Tết Cả, Tết Ta) | Mồng 1 tháng Giêng | Lễ lớn nhất, đón năm mới, sum họp gia đình |
| Tết Nguyên tiêu (Thượng nguyên) | Rằm tháng Giêng | Rằm đầu tiên của năm, đi lễ chùa |
| Tết Hàn thực | Mồng 3 tháng Ba | Bánh trôi, bánh chay |
| Tết Thanh minh | Khoảng tháng Ba âm lịch (đầu tháng 4 dương) | Tảo mộ, sửa sang mồ mả |
| Tết Đoan ngọ | Mồng 5 tháng Năm | “Giết sâu bọ” giữa năm |
| Tết Trung nguyên | Rằm tháng Bảy | Cúng tổ tiên, cúng cô hồn |
| Tết Trung thu | Rằm tháng Tám | Tết của trẻ em: rước đèn, phá cỗ |
| Tết Trùng cửu | Mồng 9 tháng Chín | Ít còn giữ ở Việt Nam |
| Tết Cơm mới (Hạ nguyên) | Tháng Mười âm lịch | Cúng gạo mới sau vụ gặt |
| Tết ông Công ông Táo | 23 tháng Chạp | Tiễn Táo quân, mở đầu chuỗi ngày đón Tết |
Không phải tết nào cũng được giữ như nhau. Nhiều nhà thành phố chỉ còn ăn Tết Nguyên Đán, Đoan ngọ và Trung thu; Trùng cửu hay Hạ nguyên chủ yếu còn ở vài làng quê. Cách cúng, món ăn mỗi vùng mỗi khác. Mấy tết lớn đã có bài riêng: Tết Cả mồng một tháng Giêng, rằm tháng Giêng và lễ Thượng nguyên, ngày mồng ba tháng ba ăn bánh trôi, tiết Thanh minh đi tảo mộ và tết mồng năm tháng năm.
Ngoài các tết cổ truyền, tiếng Việt còn gọi Tết Dương lịch (Tết Tây) cho ngày 1/1, Tết Thiếu nhi cho ngày 1/6. Các dân tộc khác cũng có tết riêng, như Tết Chôl Chnăm Thmây của người Khmer vào giữa tháng Tư dương lịch.
Ăn Tết, đi Tết, ra Tết: chữ tết trong lời ăn tiếng nói
Chữ tết sinh ra cả một họ cụm từ: ăn Tết, đón Tết, chúc Tết, sắm Tết, ra Tết (sau Tết), cận Tết, Tết nhất. Riêng “đi tết” mang nghĩa biếu quà, như câu quen thuộc “mồng một tết cha, mồng hai tết mẹ, mồng ba tết thầy”.
Ca dao ghi lại nhịp năm của nhà nông, mở đầu bằng tháng Giêng thong thả sau Tết:
Tháng Giêng là tháng ăn chơi
Tháng Hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà
Chuyện về những ngày cuối năm còn nằm trong truyện cổ, như truyện cổ tích về ông Công ông Táo, và trong rất nhiều bài thơ, câu chúc mừng năm mới.
Lại có một cái tết chỉ sống trong câu đùa: hẹn đến Tết Công Gô tức là còn lâu lắm, có khi chẳng bao giờ tới.
Một năm có mấy cái tết: vài câu hỏi
Ngày Tết là gì?
Thường dùng để chỉ những ngày đầu năm âm lịch, tức Tết Nguyên Đán. Theo nghĩa rộng, ngày tết là bất kì ngày lễ lớn nào theo truyền thống, như ngày Tết Đoan ngọ hay ngày Tết Trung thu.
Một năm có bao nhiêu tết?
Không có con số cố định, vì mỗi vùng giữ một ít. Phổ biến là khoảng mười dịp: Nguyên Đán, Nguyên tiêu, Hàn thực, Thanh minh, Đoan ngọ, Trung nguyên, Trung thu, Trùng cửu, Cơm mới và tết ông Công ông Táo.
Vì sao gọi là Tết Ta và Tết Tây?
Tết Ta là Tết Nguyên Đán theo âm lịch, lễ cổ truyền của người Việt. Tết Tây là ngày 1/1 dương lịch, đón năm mới theo lịch phương Tây.
Tết tiếng Anh là gì?
Tết Nguyên Đán thường dịch là Lunar New Year hoặc viết thẳng Tet. Từ chung cho các dịp lễ là festival hay holiday, ví dụ Tết Trung thu là Mid-Autumn Festival.