Đề tập làm một bài thơ sáu chữ, bảy chữ nằm trong mục Viết của Ngữ văn 8 và có ở hai bộ sách. Ngữ văn 8 Chân trời sáng tạo đặt đề ở tập một, Bài 1 Những gương mặt thân yêu, với tên Làm một bài thơ sáu chữ hoặc bảy chữ; Ngữ văn 8 Cánh diều đặt ở tập một, Bài 2 Thơ sáu chữ, bảy chữ, với tên Tập làm thơ sáu chữ, bảy chữ. Trang này so sánh hai thể thơ, tóm lại cách làm của từng bộ sách, đưa một dàn ý dạng phiếu chuẩn bị, rồi đến 12 bài mẫu viết riêng cho trang này: năm bài sáu chữ, sáu bài bảy chữ (hai bài thử luật bằng trắc) và một bài đặt bản nháp cạnh bản sửa. Sau mỗi bài thơ có đoạn chia sẻ về chỗ lấy cảm hứng, cách gieo vần, ngắt nhịp và chữ đã phải sửa.

Yêu cầu của bài thơ sáu chữ, bảy chữ ở lớp 8
Đề cho chọn một trong hai thể, nhưng đã chọn thể nào thì cả bài phải theo thể ấy. Giáo viên thường nhìn vào ba thứ trước: số chữ từng dòng, vần, nhịp; sau đó mới đến hình ảnh và cảm xúc. Bảng dưới đây đặt hai thể cạnh nhau để em thấy chúng giống và khác ở đâu.
| Đặc điểm | Thơ sáu chữ | Thơ bảy chữ |
|---|---|---|
| Số tiếng mỗi dòng | Sáu tiếng, giữ đều suốt bài. | Bảy tiếng, giữ đều suốt bài. |
| Nhịp hay dùng | 3/3, 2/2/2, 2/4, 4/2 | 4/3, 3/4, 2/2/3 |
| Ví dụ trong bài mẫu | Gáo dừa / múc lưng / gáo bột (2/2/2, Mẫu 1) | Hiệu nhỏ ông ngồi / sửa cả ngày (4/3, Mẫu 6) |
| Vần | Chủ yếu là vần chân ở tiếng cuối dòng: gieo liền từng cặp, gieo cách (dòng hai với dòng bốn), gieo chéo, gieo ôm. Có thể điểm thêm vần lưng: tiếng cuối dòng trên hiệp với một tiếng giữa dòng dưới. | Cũng các kiểu vần chân ấy; ngoài ra hay gặp kiểu vần ở dòng một, hai, bốn của mỗi khổ, gần với thơ tứ tuyệt. |
| Bằng trắc | Không bắt buộc. | Không bắt buộc. Muốn giọng thơ chắc hơn, có thể thử cho tiếng thứ hai, thứ tư, thứ sáu luân phiên bằng – trắc (Mẫu 6, Mẫu 10). |
| Khổ thơ | Phổ biến là khổ bốn dòng, bài dài ngắn tùy ý; bài làm trên lớp nên gói trong hai tới năm khổ. Sách Chân trời sáng tạo chấp nhận bài ngắn nhất là bốn dòng. | |
| Âm hưởng | Gọn, nhịp chẵn, hợp với lời kể nhỏ nhẹ, lời ru, giọng vui. | Dài hơi, có độ ngân, hợp với cảnh có chiều sâu, hồi tưởng, suy tư. |
Cách hai bộ sách hướng dẫn:
- Chân trời sáng tạo (Bài 1 của tập một, trang 22–24). Đề muốn em bày tỏ cảm xúc về một sự vật hoặc một hiện tượng nào đó trong đời sống, vận dụng kinh nghiệm làm thơ đã có từ lớp 6, lớp 7. Quy trình có bốn bước. Trước khi viết: xem lại các bài thơ vừa học, chú ý cách nhà thơ quan sát và cảm nhận, rồi nhìn quanh mình để chọn đề tài. Tìm ý: giữ lại sự vật, hiện tượng gây ấn tượng mạnh nhất và gọi tên cảm xúc nó gợi ra. Làm thơ: dùng từ gợi âm thanh, màu sắc, mùi vị; dùng từ láy, phép so sánh hay nhân hóa, ẩn dụ; thay một từ bằng từ cùng nghĩa mà có vần (sách lấy ví dụ cặp mình – tình, đông – hồng); đặt dấu câu ở chỗ muốn ngắt nhịp; đọc to để nghe giọng điệu đã hợp với cảm xúc chưa. Chỉnh sửa và chia sẻ: soát theo bảng kiểm (đủ sáu hoặc bảy chữ mỗi dòng, nhan đề hợp nội dung, gieo vần theo ít ra một kiểu, có biện pháp tu từ, hình ảnh sống động, tối thiểu bốn dòng), rồi đọc lại như một người đọc để tự hỏi mình thích nhất điều gì và còn phải sửa gì.
- Cánh diều (Bài 2 của tập một, trang 52–54). Phần định hướng nhắc em đọc lại các bài thơ của Bài 2, xác định rõ mình định viết về người nào, việc gì, cảm xúc của mình thế nào, và giữ đúng số chữ, cách gieo vần đã học ở phần Kiến thức ngữ văn. Phần thực hành có hai bài tập. Ở bài tập đầu, em chọn một trong mấy tiếng cho sẵn trong ngoặc, đặt vào chỗ trống trong đoạn thơ của Trần Đăng Khoa và Hàn Mặc Tử, qua đó nhận ra cách gieo vần từng khổ. Bài tập sau yêu cầu tự chọn đề tài để làm một bài thơ thuộc một trong hai thể, gợi ý các hướng quê hương, gia đình, người thân, bạn bè, trường lớp… Sách gợi năm câu hỏi trước khi viết (viết cho ai hay về chuyện gì, chọn thể nào, tình cảm với đối tượng ra sao, hình ảnh nào để lại ấn tượng sâu, đặt nhan đề thế nào); khi viết thì kể hoặc tả đối tượng qua cảm nhận riêng, dùng các phép điệp cấu trúc, ẩn dụ, so sánh, nhân hóa; viết xong thì kiểm tra lại số tiếng, vần, nhịp, xem bài có tập trung vào đối tượng không và từ nào nên thay.
Điểm khác nhau: Chân trời sáng tạo hướng vào một sự vật, hiện tượng và có bảng kiểm chi tiết; Cánh diều mở rộng đề tài sang những người, những nơi gần gũi, nhưng bắt đầu bằng bài tập điền tiếng để luyện tai nghe vần. Bộ Kết nối tri thức lớp 8 không có đề này. Các bài mẫu dưới đây dùng được cho cả hai bộ; cuối trang có gợi ý chọn bài theo từng đề.
Dàn ý một bài thơ sáu chữ hoặc bảy chữ
Phiếu chuẩn bị (viết ra nháp trước khi làm thơ)
- Đối tượng: một người đang làm một việc, một đồ vật, một con đường, một mùa trong năm. Gia đình hay quê hương mới là đề tài; ý thơ phải nhỏ hơn thế, chẳng hạn bà tráng bánh lúc ba giờ sáng.
- Thể thơ: chọn sáu chữ khi muốn giọng kể nhẹ, nhịp chẵn; chọn bảy chữ khi cảnh có nhiều chi tiết hoặc muốn dòng thơ ngân dài.
- Cảm xúc chính, gọi bằng một từ: thương, nhớ, biết ơn, buồn cười, ngạc nhiên. Từ này giữ hướng cho em, không cần đưa vào bài.
- Năm chi tiết lấy từ các giác quan: thấy, nghe, ngửi, nếm, chạm. Đánh dấu chi tiết em muốn để dành cho khổ cuối.
- Sơ đồ vần cho từng khổ, kí hiệu bằng chữ cái bên cạnh khổ nháp: vần liền AABB, vần chéo ABAB, vần ôm ABBA, vần cách XAXA hoặc AAXA (ba dòng chung vần, trừ dòng ba).
1. Khổ mở
– Đặt người đọc vào một thời điểm, một nơi chốn hoặc một âm thanh cụ thể.
– Chưa vội nói cảm xúc; dòng đầu nên có một hình ảnh. Tiếng cuối dòng đầu sẽ kéo theo vần của những dòng kế tiếp, nên chọn tiếng có nhiều chữ cùng vần.
2. Các khổ giữa (một đến ba khổ)
– Mỗi khổ một khoảnh khắc hoặc một chi tiết; đi theo thời gian (sáng – trưa – tối) hay theo không gian (trong nhà – ngoài ngõ) cho dễ theo dõi.
– Có thể chen lời của người trong bài, vài chữ thôi, đặt sau dấu hai chấm, không cần ngoặc kép.
– Đặt phép tu từ ở chỗ cần nhấn; một khổ chỉ cần một hình ảnh so sánh hay nhân hóa thật đắt.
3. Khổ kết
– Khép lại bằng chi tiết đã để dành, hoặc một phát hiện nhỏ của riêng em.
– Tránh câu kết hô khẩu hiệu hay hứa hẹn; để hình ảnh nói thay.
4. Soát bài và viết đoạn chia sẻ
– Đếm tiếng từng dòng bằng cách gõ ngón tay xuống bàn; tô màu các tiếng gieo vần.
– Đọc thành tiếng toàn bài; dòng nào làm lưỡi vấp thì khoanh lại, rồi thử đổi nhịp hoặc đảo từ.
– Đặt nhan đề sau cùng, khi đã biết bài thơ thật sự nói về điều gì.
– Đoạn chia sẻ chừng năm đến bảy câu: chuyện gì khiến em viết, em gieo vần kiểu gì và ngắt nhịp ra sao (dẫn một dòng làm ví dụ), chữ nào đã sửa, sửa vì sao.
Mẹo chuyển qua lại giữa hai thể: bớt hoặc thêm một tiếng thường đủ để đổi một dòng sáu chữ thành bảy chữ. Dòng Bố bế em, bước thật nhẹ (sáu chữ) thêm chữ đi thành Bố bế em đi, bước thật nhẹ (bảy chữ). Nhưng đổi xong phải soát lại nhịp cả khổ: một dòng bảy chữ lạc giữa các dòng sáu chữ là lỗi trộn thể.
Năm bài thơ sáu chữ
Dòng sáu chữ ngắn, nhịp chẵn, hợp với giọng kể nhỏ nhẹ hoặc lời ru. Năm bài dưới đây viết về người thân và bạn bè, mỗi bài một kiểu vần chủ đạo; có bài thử thêm vần lưng. Người và việc trong các bài thơ là hư cấu, dựng từ những trải nghiệm quen thuộc của học sinh.
Mẫu 1: Phên bánh đa của bà (thơ sáu chữ)
Gà chưa gáy, bà đã dậy,
Bếp trấu đỏ, nồi nước sôi.
Miệng nồi căng tấm vải mỏng,
Vầng hơi trắng bay chơi vơi.
Gáo dừa múc lưng gáo bột,
Tráng một vòng mỏng mà trong.
Đậy vung, đếm thầm mười tiếng,
Mở ra, bánh chín vừa xong.
Ống tre lăn bánh lên phên,
Phên tre xếp dài ra ngõ.
Nắng lên, vừng đen lấm tấm:
Trăng tròn rắc đầy sao nhỏ.
Trưa về, bánh khô giòn nắng,
Bà ngồi phủi bột trên tay.
Phủi mãi, vẫn còn vệt trắng
Vương trên mái tóc, chẳng bay.
Đằng sau bài thơ: Mùi trấu cháy là thứ em nhớ trước tiên mỗi khi nghĩ về những buổi sáng ở nhà bà. Bà tráng bánh đa từ khi gà chưa gáy để kịp đem phơi lúc nắng sớm, còn em dậy theo để rắc vừng. Bài thơ đi đúng trình tự ấy: nhóm bếp, tráng bánh, phơi bánh, phủi bột. Em gieo vần cách, vần rơi vào dòng chẵn mỗi khổ (sôi – vơi, trong – xong, ngõ – nhỏ, tay – bay); riêng khổ cuối có thêm cặp nắng – trắng ở dòng một, dòng ba. Nhịp đổi theo việc làm của bà: 2/2/2 ở dòng múc bột cho đều tay, 2/4 ở hai dòng đậy vung, mở vung. Dòng phải sửa là dòng tả vừng. Nháp đầu viết Bánh nào cũng lốm đốm nhỏ: đủ sáu chữ, có vần với ngõ, nhưng phẳng. Nghĩ đến chiếc bánh tròn như vầng trăng, em đổi thành trăng tròn rắc đầy sao nhỏ. Em cũng không viết thẳng rằng tóc bà đã bạc; bà phủi mãi mà vệt trắng không bay, người đọc tự hiểu.
Mẫu 2: Một dây (thơ sáu chữ)
Đàn của ông chỉ một dây,
Vậy mà có cả gió, mây.
Que gảy chạm dây rất khẽ,
Tay trái lay cần thật nhẹ.
Một tiếng ngân, cong thành ba,
Như ai gọi đò rất xa.
Tiếng chùng như mưa mái rạ,
Run như gió lùa qua lá.
Ông nhắm mắt, đầu hơi nghiêng,
Tiếng đàn rẽ lối đi riêng.
Quả bầu khô ngồi im lặng,
Ôm tiếng đàn như ôm nắng.
Ông treo đàn lên vách nứa,
Dây ngân thêm một chút nữa.
Em nằm, nghe trong bóng tối
Có sợi dây nào vừa nối.
Đằng sau bài thơ: Đàn bầu chỉ có một dây, và em lấy luôn điều ấy làm dòng mở đầu. Ông em chơi đàn từ hồi trẻ trong đội văn nghệ của xã; tối nào trời mát, ông lại mang đàn ra hiên. Cả bài gieo vần liền, hai dòng một cặp, xen cặp thanh bằng (dây – mây, ba – xa, nghiêng – riêng) với cặp thanh trắc (khẽ – nhẹ, rạ – lá, lặng – nắng, nứa – nữa, tối – nối), để giọng thơ lúc ngân lúc nén như chính tiếng đàn. Phần lớn các dòng ngắt 3/3. Chữ đắt nhất với em là chữ cong. Bản nháp viết Một tiếng ngân thành ba tiếng, đủ chữ mà không thấy gì. Tay trái ông lay cần đàn làm âm thanh uốn lên rồi chùng xuống, nên em viết một tiếng ngân cong thành ba. Quả bầu khô ở khổ ba là bộ phận làm tiếng đàn vang to; em nhân hóa nó thành người ngồi ôm tiếng đàn. Khổ cuối, sợi dây đàn thành sợi dây nối hai ông cháu, nhưng em không nói ra.
Mẫu 3: Tên bạn trên ngón tay (thơ sáu chữ)
Trống vang, cả lớp đứng dậy,
Ngần nhìn quanh rồi đứng theo.
Tiếng trống bạn không nghe thấy,
Bạn nghe bằng mắt trong veo.
Em tập theo mạng mỗi đêm,
Bàn tay xòe ra, chụm vào.
Ngón tay còn cứng, chưa mềm,
Tên Ngần đánh vần thế nào?
Sáng ra, em vỗ vai Ngần,
Đánh vần tên bạn vụng về.
Sai một ngón, bạn bật cười,
Cầm tay em sửa, chẳng chê.
Sân trường giờ chơi ầm ĩ,
Hai đứa trò chuyện không lời.
Tay hỏi, tay đáp, thủ thỉ,
Nắng ghé ngồi nghe, thảnh thơi.
Đằng sau bài thơ: Ban đầu em tính làm một bài thơ về lòng cảm thông, rồi bỏ, vì Ngần chẳng cần ai thương hại. Bạn khiếm thính từ nhỏ, chuyển vào lớp em năm nay, học giỏi Toán và vẽ rất đẹp. Điều khiến em muốn viết là một chuyện nhỏ: trống đánh, Ngần không nghe, nhưng thấy cả lớp đứng lên thì đứng theo. Từ đó có dòng Bạn nghe bằng mắt trong veo. Em học vài kí hiệu trên mạng để chào bạn, ngón tay cứ vụng, và lần đầu đánh vần tên Ngần thì sai một chữ. Ba khổ gieo vần chéo (dậy – thấy, theo – veo; đêm – mềm, vào – nào; ầm ĩ – thủ thỉ, lời – thơi), riêng khổ ba chỉ có một cặp hiệp vần (về – chê). Dòng em thích nhất là dòng ngắt 2/2/2 ở khổ cuối. Nháp của nó kết bằng chữ rất nhanh, nghe như đang tả tốc độ; đổi thành thủ thỉ thì vừa có vần, vừa tạo một nghịch lí nho nhỏ: hai bàn tay không phát ra tiếng mà vẫn thủ thỉ được.
Mẫu 4: Bụi đỏ (thơ sáu chữ)
Mùa khô, con đường đất đỏ,
Bụi bay theo mỗi bước chân.
Sáng đi áo còn trắng muốt,
Chiều về áo đã đỏ dần.
Dọc đường cà phê nở trắng,
Hương bay theo nắng lên đồi.
Vòi tưới xoay vòng rắc nước,
Bụi đỏ chịu ngồi yên thôi.
Mẹ giặt áo em mỗi tối,
Nước trong chậu đỏ như son.
Mẹ bảo: đỏ thì cứ đỏ,
Đất này nuôi cây, nuôi con.
Em đi, dép in dấu nhỏ
Lên lưng con đường đỏ au.
Bụi bám áo như con trẻ
Níu mẹ, không chịu rời nhau.
Đằng sau bài thơ: Ở Tây Nguyên, mùa khô là mùa của bụi đỏ, cũng là lúc cà phê nở hoa trắng cả đồi. Con đường đất từ nhà em ra trường dài hơn ba cây số, đi một lượt là ống quần đỏ tới gối. Em muốn viết về con đường ấy mà không than phiền, nên để mẹ nói câu ở khổ ba: đất này nuôi cây, nuôi con. Bốn khổ đều để dòng lẻ tự do, chỉ dòng chẵn hiệp vần (chân – dần, đồi – thôi, son – con, đỏ au – rời nhau). Khổ hai em thử thêm vần lưng: tiếng trắng ở cuối dòng một hiệp với tiếng nắng nằm giữa dòng hai, nhờ vậy hai dòng như bám vào nhau. Nhịp phần nhiều là 2/4 (Mùa khô / con đường đất đỏ), riêng dòng tả hoa cà phê đọc 2/2/2. Chữ phải cân nhắc là chịu. Nháp đầu viết Bụi đỏ không bay nữa rồi, có vần với đồi nhưng nhạt. Thêm chữ chịu, bụi đỏ thành một đứa trẻ bướng vừa được dỗ, khớp với hình ảnh bụi níu áo như con níu mẹ ở khổ cuối.
Mẫu 5: Bố ru (thơ sáu chữ)
Mẹ trực đêm, nhà vắng mẹ,
Bố bế em, bước thật nhẹ.
Bố ru: à ơi… à ời…
Ba câu đã hết sạch lời.
Bố chuyển sang bài hành quân,
Em vung tay, đạp hai chân.
Bố đi quanh phòng, đi mãi,
Mồ hôi ướt sũng vai trái.
Bố đếm cừu cho em ngủ,
Đếm tới con một trăm hai.
Em vẫn mở to đôi mắt,
Bố gà gật, cằm chạm vai.
Năm giờ, mẹ về, rón rén:
Hai bố con ngủ ngon lành.
Tay em nắm ngón tay bố.
Bài ru ba câu, đã thành.
Đằng sau bài thơ: Bài này cả nhà em đọc đều cười, trừ bố. Mẹ em là điều dưỡng, những đêm mẹ trực, bố một mình ru em út. Hai khổ đầu vần liền, hai khổ sau vần cách; nhịp 3/3 là chính. Nháp khổ ba viết Bố thì đã ngủ say rồi, lệch vần mà nói thẳng quá; cái cằm chạm vai là cảnh em thấy thật. Dòng cuối gọi lại ba câu ru ở khổ đầu.
Sáu bài thơ bảy chữ
Thêm một tiếng, dòng thơ dài hơi hơn và gần với âm hưởng thơ Đường luật mà cả hai bộ sách sẽ học ở tập hai. Mẫu 6 và Mẫu 10 thử luật bằng trắc nhẹ; các bài còn lại chỉ giữ số chữ, vần và nhịp như đề yêu cầu.
Mẫu 6: Tích tắc trong hiệu nhỏ (thơ bảy chữ)
Hiệu nhỏ ông ngồi sửa cả ngày,
Kính lúp cài nghiêng, một mắt cay.
Nhíp gắp bánh răng như hạt gạo,
Nín thở, kẻo hơi mình thổi bay.
Hai chục đồng hồ treo kín vách,
Tích tắc rơi đều như hạt mưa.
Ông chỉ nghiêng tai là đã biết
Chiếc nào chạy vội, chiếc nào thưa.
Có bà cụ đến, đưa ông xem
Chiếc đồng hồ cũ, kim nằm im,
Của người đã khuất từ năm ấy,
Tích tắc dừng theo một nhịp tim.
Ông mở nắp, lau từng bánh nhỏ,
Vặn cót, kim giây khẽ nhích dần.
Bà áp lên tai, ngồi rất lặng,
Như có ai về, đứng thật gần.
Đằng sau bài thơ: Đây là bài em làm lâu nhất, vì em tự đặt thêm một luật mà đề không bắt buộc: trong mỗi dòng, tiếng thứ hai, thứ tư, thứ sáu phải luân phiên bằng – trắc. Lấy dòng đầu làm ví dụ: nhỏ là thanh trắc, ngồi là thanh bằng, cả lại là thanh trắc. Mười sáu dòng đều theo luật ấy, đọc lên chắc và đều như tiếng tích tắc; nhịp 4/3 giữ suốt bài. Khổ đầu có ba tiếng cùng vần ở cuối dòng một, hai, bốn, giống khuôn thơ tứ tuyệt (ngày – cay – bay); từ khổ hai, em chỉ giữ một cặp vần ở hai dòng chẵn (mưa – thưa, im – tim, dần – gần). Hiệu đồng hồ đầu ngõ là của ông nội em; chuyện bà cụ mang đồng hồ của người chồng đã mất đến sửa là ông kể. Dòng thứ tám tốn công nhất. Nháp viết Chiếc nào chạy nhanh, chiếc nào chậm: đúng ý, nhưng tiếng thứ hai và thứ tư cùng thanh bằng, tiếng cuối lại không vần với mưa. Em đổi nhanh thành vội, chậm thành thưa: tiếng tích tắc thưa đi là ông biết chiếc đồng hồ ấy đang yếu.
Mẫu 7: Mùa bông vàng (thơ bảy chữ)
Nước nổi tràn đồng, trắng mênh mang,
Điên điển ven bờ đã trổ vàng.
Má chống xuồng đi, con ngồi mũi,
Hái từng chùm nắng bỏ vô khoang.
Má nấu canh chua cá linh non,
Thả vô một nắm bông vàng rực.
Ba nếm, gật gù khen vừa miệng,
Hương bay qua rạch, thơm sực nức.
Bạn trên phố hỏi: lũ có sợ?
Con kể nghe về một mùa bông,
Về hàng điên điển vàng đang nở,
Nước tới, phù sa lại phủ đồng.
Đằng sau bài thơ: Em để nguyên mấy tiếng của người miền Tây trong bài: má, ba, vô, rạch. Viết về mùa nước nổi mà đổi thành mẹ, bố, vào thì bài thơ mất giọng quê. Mùa nước, nước từ thượng nguồn đổ về tràn đồng, hàng điên điển ven bờ trổ bông vàng, má chống xuồng đi hái bông về nấu canh chua với cá linh. Bài có ba khổ, mỗi khổ một kiểu vần: khổ đầu ba dòng chung vần ang (mang – vàng – khoang), khổ hai vần cách bằng hai tiếng trắc (rực – nức), khổ ba vần chéo (sợ – nở, bông – đồng). Nhịp chủ yếu 4/3; dòng Con kể nghe về một mùa bông ngắt 3/4 để hai chữ mùa bông dồn về cuối. Chữ em sửa là nắng. Nháp viết Hái từng chùm bông bỏ vô khoang, vừa lặp chữ bông với khổ sau, vừa chưa thấy màu; gọi chùm bông điên điển là chùm nắng thì cả khoang xuồng sáng lên. Khổ cuối là câu trả lời cho người bạn ở thành phố: với người ở đây, đó là mùa nước, không chỉ là lũ.
Mẫu 8: Xe của chị (thơ bảy chữ)
Chị lên cấp ba, đi xe khác,
Chiếc xe xanh cũ lại về em.
Chuông rè, giỏ méo, yên vá chỉ,
Sơn tróc như tranh bé vẽ lem.
Hôm đầu, sên tuột giữa đường dốc,
Em dắt bộ, mặt nặng như chì.
Lắp mãi, tay đen, gió thổi thốc,
Lật ngược xe, thấy mấy chữ ghi.
Nét bút xóa cũ, chữ nghiêng ngả:
Tên chị, kèm dòng: đi chậm thôi.
Em lấy bút, viết thêm bên dưới,
Hai cái tên giờ đã thành đôi.
Giờ mỗi lần lên con dốc ấy,
Chuông rè kêu khẽ, nghe như cười.
Em bóp phanh, đi chậm, đúng theo
Lời chị dặn chị năm lên mười.
Đằng sau bài thơ: Hai dòng cuối phải đọc liền mới thành câu. Em cố ý ngắt dòng ở chữ theo để người đọc dừng một nhịp rồi mới gặp lời dặn, và lời dặn ấy hóa ra chị viết cho chính chị. Chiếc xe xanh chị đi suốt mấy năm; chị lên cấp ba thì xe về tay em, kèm cái chuông rè và cái giỏ méo. Hôm sên tuột, lật ngược xe ra lắp, em mới thấy dòng chữ bút xóa dưới yên. Vần thay đổi theo khổ: khổ hai gieo chéo (dốc – thốc, chì – ghi), các khổ còn lại gieo cách ở dòng chẵn. Dòng Chuông rè, giỏ méo, yên vá chỉ ngắt 2/2/3 như đang điểm lại từng chỗ hỏng. Bản đầu của dòng bốn khổ một là Sơn tróc loang lổ trông thật kém: đúng vần với em nhưng lệch thanh, giọng lại chê bai. Em muốn chiếc xe cũ mà đáng yêu, nên so lớp sơn tróc với bức tranh em bé vẽ lem.
Mẫu 9: Đèn pin trên cành vải (thơ bảy chữ)
Ba giờ sáng, mẹ khẽ gọi con,
Ngoài vườn sương ướt lối đi mòn.
Đèn pin buộc trán, thang tre vác,
Vải chín đầy cành như chấm son.
Mẹ leo thang, bẻ từng chùm quả,
Con đứng dưới, ôm sọt đón vào.
Hai vệt đèn chạm nhau, chênh chao,
Như hai đứa trẻ đùa trong lá.
Mẹ bóc một quả, đưa con nếm,
Cùi trắng ngọt mát, con xin thêm.
Trời hửng, sọt đầy, xe tới cổng,
Mẹ mới ngồi, tựa cột bên thềm.
Vải lên xe, đi về phố xá,
Người ăn có biết lúc ba giờ?
Con thì biết: trong từng quả ngọt
Có ánh đèn mẹ, có sương mờ.
Đằng sau bài thơ: Mùa vải năm ngoái em theo mẹ ra vườn ba đêm liền. Nhà trồng vải thường hái từ lúc trời còn tối để kịp đóng sọt cho xe đến lấy, nên đèn pin buộc trán là thứ không thể thiếu. Em nhớ nhất cảnh hai ngọn đèn, một trên thang, một dưới gốc, cứ chạm vào nhau giữa tán lá. Khổ hai em gieo vần ôm: quả và lá ở hai đầu ôm lấy cặp vào – chao ở giữa. Khổ mở đầu dùng vần on (con – mòn – son); khổ ba, khổ bốn chỉ để dòng hai hiệp với dòng bốn (thêm – thềm, giờ – mờ). Nhịp 3/4 dùng nhiều nhất, như Mẹ leo thang, bẻ từng chùm quả. Chữ được sửa là chênh chao. Nháp viết Hai ánh đèn rọi qua rọi lại, nghe như tả đèn pha ngoài đường; chênh chao cho thấy ánh đèn lắc theo người đứng trên thang. Câu hỏi ở khổ cuối em giữ nguyên, vì đó đúng là điều em nghĩ khi nhìn xe vải chạy đi.
Mẫu 10: Hai ngọn đèn (thơ bảy chữ)
Bác giữ ngọn đèn ở đảo xa,
Mỗi tối đèn quay rọi lối qua.
Từng chớp, từng hồi bác thuộc lòng
Như thuộc giọng ai gọi ở nhà.
Sáng sáng lau từng tấm kính đèn,
Rau mọc trong thùng, gió muối quen.
Sổ ghi sức gió, ghi màu sóng,
Trang giấy mặn mùi, chữ nhỏ chen.
Bác gọi về nhà khi có sóng,
Tiếng gió ù ù lẫn tiếng cười.
Con kể chuyện trường, khoe điểm Toán,
Bác hỏi: lớp con được mấy người?
Tối ấy con ngồi bên cửa sổ,
Bật ngọn đèn bàn, học tới khuya.
Ngoài ấy, chắc đèn bác cũng sáng:
Bác cháu hai đèn, một biển chia.
Đằng sau bài thơ: Bác ruột em giữ đèn hải đăng ở một đảo nhỏ đã hơn mười năm. Mỗi lần bác gọi về, tiếng gió lấn cả tiếng nói, và câu bác hay hỏi nhất là lớp con có bao nhiêu bạn. Em đặt câu ấy ở cuối khổ ba mà không giải thích: một người quanh năm sống giữa biển, ít người qua lại, lại tò mò về những đám đông nhỏ ở trường. Giống Mẫu 6, bài này giữ luật 2–4–6 (bằng, trắc xen nhau ở ba vị trí ấy) cho mọi dòng, nhịp 4/3. Khác ở vần: hai khổ đầu mỗi khổ ba tiếng cùng vần (xa – qua – nhà, đèn – quen – chen), hai khổ cuối chỉ còn một cặp (cười – người, khuya – chia). Khuya với chia là vần thông: chữ viết khác nhau mà đọc lên vẫn hiệp. Em phải làm lại dòng thứ tám. Bản đầu là Trang giấy nhàu đi vì gió mặn, có hình ảnh nhưng tiếng cuối là thanh trắc, không vần với đèn, quen. Em giữ vị mặn, chuyển vào giữa dòng rồi chọn chữ chen, hình dung những dòng nhật kí chữ nhỏ viết sát vào nhau.
Mẫu 11: Tết ở dãy trọ (thơ bảy chữ)
Hai tám Tết, dãy trọ thưa người,
Xe khách đầu ngõ đón về nhà.
Bố mẹ ở lại vì vé đắt,
Mùng bốn xưởng mở, lại vào ca.
Mẹ mua lá dong về gói bánh,
Hộp bánh quy làm khuôn, vuông cạnh.
Nồi cơm điện luộc mười tiếng chẵn,
Bố canh nồi, khen: ngon hơn hẳn!
Chiều ba mươi, ba phòng ở lại
Kê bàn giữa lối, góp mâm chung.
Người mang đĩa giò, người nồi xôi,
Cành đào chợ muộn nở lung tung.
Giao thừa, mẹ gọi về cho ngoại,
Màn hình nhòe khói hương bàn thờ.
Ngoại cười móm mém, khoe nồi bánh,
Mẹ bảo khói cay, mắt hơi mờ.
Dãy trọ, mấy ổ khóa nằm ngủ,
Chỉ ba cánh cửa sáng đèn thôi.
Pháo hoa nổ đâu xa, rất nhỏ,
Ba cửa cùng mở, Tết vào rồi.
Đằng sau bài thơ: Hai cái Tết gần đây, nhà em đều ăn Tết ở khu trọ. Bố mẹ em làm công nhân, vé xe ngày giáp Tết đắt hơn ngày thường nhiều, mà mùng bốn xưởng đã chạy máy. Em tránh để bài thơ thành lời than, nên chọn những chi tiết vừa buồn cười vừa thương: bánh chưng gói bằng khuôn hộp bánh quy, luộc trong nồi cơm điện, cành đào chợ muộn nở lung tung. Năm khổ đi từ hai tám Tết đến giao thừa. Khổ hai gieo vần liền, cả bốn tiếng đều thanh trắc (bánh – cạnh, chẵn – hẳn); ba khổ sau để dòng lẻ tự do. Nhịp 4/3 xen 2/2/3, như dòng Mẹ bảo khói cay, mắt hơi mờ. Đây cũng là dòng em sửa nhiều nhất. Bản đầu là Mẹ quay mặt đi, lặng lẽ khóc: nói hết, lại không vần. Để mẹ đổ cho khói hương thì người đọc biết mẹ khóc, và biết làn khói ấy ở tận quê, chỉ hiện trong màn hình.
Sửa một bài thơ bảy chữ: bản nháp và bản sửa
Bài cuối đặt hai bản cạnh nhau. Bản nháp được giữ nguyên các lỗi để em dễ đối chiếu với bài của mình.
Mẫu 12: Diều sáo trên đê (bản nháp và bản sửa)
Bản nháp:
Chiều hè em lên đê thả diều,
Cánh diều bay cao giữa trời xanh.
Tiếng sáo vi vu nghe thật là hay,
Em yêu cánh diều mãi mãi không thôi.
Bố làm diều cho em bằng tre,
Dây diều dài thật dài,
Diều bay cao tít tận trời mây,
Em mong diều bay về đến nhà em.
Bản sửa:
Gió nồm lên đê, chiều tháng sáu,
Khung tre bố vót suốt hôm qua.
Giấy dán hai lần, dây quấn ống,
Diều chạy theo con, rồi vút xa.
Sáo diều cất tiếng, u u… u…
Cả triền đê lặng nghe sáo ru.
Trâu ngẩng đầu lên, thôi gặm cỏ,
Cò đứng một chân, nghiêng theo gió.
Tối rồi, cuộn dây, diều chẳng xuống,
Cứ níu tay con, giật từng hồi.
Về nhà, tay vẫn còn rung nhẹ,
Như diều còn kéo giữa mây trôi.
Đằng sau bài thơ: Bản nháp này em viết trong mười phút, ngay tối hôm đi thả diều về, đọc lại thì thấy gần đủ các lỗi của người mới tập. Số chữ không đều: dòng ba, dòng bốn và dòng cuối có tám tiếng, dòng sáu chỉ năm tiếng. Xanh, hay, thôi chẳng hiệp vần với nhau; mây và hay trông giống mà một bên là vần ây, một bên là vần ay. Từ ngữ toàn chữ có sẵn: trời xanh, thật là hay, mãi mãi. Dòng thứ tư nói thay người đọc điều đáng lẽ họ phải tự cảm thấy. Khi sửa, em giữ ba ý cũ (bố làm diều, tiếng sáo, diều bay cao) nhưng tìm cho mỗi ý một chi tiết: khung tre bố vót, con trâu thôi gặm cỏ, bàn tay về nhà còn rung. Khổ một, khổ ba theo vần cách (qua – xa, hồi – trôi), khổ hai vần liền (u – ru, cỏ – gió). Chữ yêu thì em bỏ hẳn.
Lỗi thường gặp và mẹo đạt điểm cao
| Lỗi | Dòng thơ mắc lỗi | Sửa lại |
|---|---|---|
| Dòng thừa, thiếu chữ | Tiếng sáo vi vu nghe thật là hay (tám tiếng trong bài bảy chữ) | Bỏ hư từ thật là, hoặc viết lại cả dòng. Đếm tiếng ngay sau mỗi khổ, đừng để đến cuối bài. |
| Trộn sáu chữ với bảy chữ trong một bài | Bố bế em, bước thật nhẹ đứng cạnh Bố bế em đi, bước thật nhẹ | Quyết định thể thơ trước khi viết. Chỉ trộn khi cố ý làm thể kết hợp và nói rõ trong phần chia sẻ; ở bài kiểm tra nên tránh. |
| Vần gần mà không phải vần | hay với mây; lên với yên | So phần vần sau phụ âm đầu: ay khác ây, ên khác iên. Viết các chữ định gieo vần thành một cột rồi đọc to để kiểm tra. |
| Ép vần, mượn chữ sáo | Bà ngồi tráng bánh bên hiên / Tay bà khéo léo như tiên | Như tiên có vần nhưng chẳng tả được gì. Đổi tiếng cuối dòng trên để có vần dễ tìm hơn, rồi tìm chữ tả đúng việc: gáo dừa, vòng bột, mười tiếng đếm thầm (Mẫu 1). |
| Vần bằng đi với vần trắc | Sơn tróc loang lổ trông thật kém đặt sau dòng kết bằng em | Hai tiếng bắt vần nên cùng nhóm thanh: cùng bằng (ngang, huyền) hoặc cùng trắc (sắc, hỏi, ngã, nặng). |
| Cả bài một nhịp | Mười sáu dòng bảy chữ đều ngắt 4/3 | Giữ một nhịp chủ đạo, đổi nhịp ở dòng muốn nhấn: 2/2/3 khi liệt kê (Mẫu 8), 3/4 khi muốn dồn ý về cuối dòng (Mẫu 7). |
| Nói thẳng cảm xúc | Em yêu cánh diều mãi mãi không thôi | Thay câu tuyên bố bằng một việc làm hay một cảm giác của cơ thể: bàn tay về nhà vẫn còn rung (Mẫu 12). |
| Tưởng phải làm đúng luật như thơ Đường | Bỏ một hình ảnh hay chỉ vì tiếng thứ tư sai thanh | Đề lớp 8 không đòi hỏi bằng trắc theo luật. Muốn thử thì làm như Mẫu 6, Mẫu 10, nhưng hình ảnh và vần vẫn quan trọng hơn. |
| Đoạn chia sẻ chỉ kể lại bài thơ | Bài thơ của em nói về bà, em rất thương bà | Kể chỗ lấy cảm hứng, chỉ ra kiểu vần, nhịp bằng chính dòng thơ của mình, và ít nhất một lần sửa chữ có lí do. |
Mẹo nhỏ khi chép sạch: đọc bài cho một người trong nhà nghe, không đưa bản viết. Chỗ nào người nghe hỏi lại hoặc em đọc vấp, chỗ đó cần sửa. Với thơ bảy chữ, thử vỗ tay ở tiếng thứ tư của mỗi dòng: dòng nào vỗ lệch chỗ ngắt là nhịp chưa ổn.
Bài mẫu nào hợp với đề của em?
Học sách Chân trời sáng tạo (cảm xúc về một sự vật hoặc hiện tượng): sự vật có Mẫu 2 (cây đàn bầu), Mẫu 6 (hiệu đồng hồ), Mẫu 8 (chiếc xe đạp cũ), Mẫu 12 (cánh diều); hiện tượng có Mẫu 4 (mùa khô bụi đỏ), Mẫu 7 (mùa nước nổi), Mẫu 11 (Tết không về quê). Học sách Cánh diều (đề tài tự chọn): gia đình, người thân có Mẫu 1, 2, 5, 6, 8, 9, 10, 11; bạn bè, trường lớp có Mẫu 3; quê hương có Mẫu 4, 7, 9. Nếu mới làm thơ lần đầu, hãy đọc Mẫu 12 trước rồi tự viết một bản nháp thật nhanh, sau đó mới sửa từng dòng. Bài mẫu giúp em quen tay với khuôn sáu, bảy tiếng; còn chi tiết thì phải lấy từ nhà mình, xóm mình.
Xem thêm:
- Soạn bài Chái bếp, Soạn bài Nhớ đồng, Soạn bài Những chiếc lá thơm tho (Bài 1, Chân trời sáng tạo 8)
- Soạn bài Nắng mới, Soạn bài Nếu mai em về Chiêm Hóa (Bài 2, Cánh diều 8)
- Đoạn văn ghi lại cảm nghĩ về bài thơ sáu chữ, bảy chữ (đề Viết đi cùng ở Bài 2, Cánh diều 8)
- Đoạn văn ghi lại cảm nghĩ về một bài thơ tự do (đề Viết đi cùng ở Bài 1, Chân trời sáng tạo 8)
- Những bài thơ 6 chữ hay, Những bài thơ 7 chữ hay
- Tập làm thơ ở các lớp khác: thơ lục bát (lớp 6), thơ bốn chữ, năm chữ (lớp 7), thơ tám chữ (lớp 9)