Tâm lý học là khoa học về tâm trí và hành vi của con người: ta cảm nhận, ghi nhớ, suy nghĩ, xúc động và hành động ra sao, vì sao lại như vậy. Tiếng Anh gọi là psychology. Ngành tâm lý học vừa làm nghiên cứu, vừa đem hiểu biết ấy vào trường học, bệnh viện, công ty và đời sống gia đình.
Khi gặp lại khái niệm đọc vị trong bài học khác, bạn có thể tra nhanh phần giải nghĩa riêng.
| Nghĩa ngắn | Khoa học về tâm trí và hành vi |
| Gốc từ | Hán Việt 心理學; tiếng Anh psychology từ psyche (hồn, tâm trí) và -logy (môn học) |
| Loại từ | Danh từ, tên một ngành khoa học |
| Nghiên cứu gì | Tri giác, trí nhớ, tư duy, cảm xúc, động cơ, nhân cách, quan hệ giữa người với người |

Tâm lý học là gì?
Không ai cầm được nỗi sợ hay đặt trí nhớ lên bàn cân. Cái khó và cái hay của tâm lý học nằm ở đó: nó nghiên cứu những thứ diễn ra bên trong đầu óc, thông qua những gì quan sát được bên ngoài như lời nói, nét mặt, thời gian phản ứng, kết quả một bài trắc nghiệm, hình ảnh hoạt động của não.
Theo cách định nghĩa phổ biến trong các từ điển bách khoa, đối tượng của ngành gồm cả hiện tượng ý thức lẫn vô thức, cảm xúc lẫn tư duy. Người làm nghề được gọi là nhà tâm lý học. Có người chỉ làm nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, có người làm tham vấn, trị liệu, có người làm ở bộ phận nhân sự của một công ty.
Cần tách hai chữ hay bị dùng lẫn. “Tâm lý” là đời sống tinh thần của một người, như khi nói “tâm lý bất an”, “anh ấy rất tâm lý”. Thêm chữ “học” thì thành tên một ngành khoa học chuyên tìm hiểu đời sống tinh thần ấy. Nghĩa của riêng chữ tâm lý đã có ở bài giải nghĩa chữ tâm lý trong lời ăn tiếng nói.
Từ câu hỏi triết học đến phòng thí nghiệm ở Leipzig
Từ thời cổ đại, câu hỏi “tâm hồn là gì” thuộc về triết học. Người ta suy ngẫm, tranh luận, nhưng chưa đo đếm. Bước ngoặt đến năm 1879, khi Wilhelm Wundt lập phòng thí nghiệm tâm lý học đầu tiên tại Đại học Leipzig (Đức). Từ đó tâm lý học tách khỏi triết học thành một khoa học độc lập, dùng thí nghiệm để kiểm tra giả thuyết.
Vì sao xã hội cần ngành này? Bởi rất nhiều chuyện đời thường thực chất là chuyện tâm lý: một học sinh học mãi không vào, một nhân viên giỏi bỗng kiệt sức, hai người thân cãi nhau vì những hiểu lầm nhỏ. Hiểu cơ chế bên trong giúp người ta tìm cách học hiệu quả hơn, thiết kế lớp học, công việc, sản phẩm vừa với con người hơn, và nhận ra sớm khi ai đó cần được hỗ trợ.
Mặt trái cũng có. Nhiều trắc nghiệm tính cách lan truyền trên mạng, nhiều mẹo “đọc vị người khác trong năm giây” được gắn mác tâm lý học, nhưng không qua kiểm chứng khoa học nào. Một ví dụ quen thuộc là bài trắc nghiệm MBTI và những tranh cãi quanh nó.
Về sau, trường phái hành vi đẩy mạnh lối làm thí nghiệm, và cái tên gắn với nó nhiều nhất là nhà tâm lý học B. F. Skinner cùng chiếc hộp nổi tiếng của ông.
Tâm lý học có mặt ở đâu trong đời sống?
Ngành này chia thành nhiều nhánh, mỗi nhánh gắn với một mảng đời sống cụ thể:
- Tâm lý học nhận thức nghiên cứu cách ta chú ý, ghi nhớ, suy luận, ra quyết định. Lời khuyên “học ngắt quãng nhớ lâu hơn học dồn” có gốc từ đây.
- Tâm lý học phát triển theo dõi con người thay đổi từ lúc sơ sinh đến tuổi già: tuổi dậy thì, khủng hoảng tuổi trung niên.
- Tâm lý học xã hội tìm hiểu ảnh hưởng của đám đông, định kiến, áp lực bạn bè lên hành vi mỗi người.
- Tâm lý học giáo dục và học đường hỗ trợ việc dạy học, phát hiện học sinh gặp khó khăn.
- Tâm lý học lâm sàng đánh giá và hỗ trợ những người đang gặp vấn đề sức khỏe tinh thần.
- Tâm lý học tổ chức, lao động làm việc với tuyển dụng, động lực, môi trường làm việc.
Một số khái niệm của ngành đã đi vào lời nói hằng ngày, như “cái tôi” mà người ta hay mượn từ học thuyết Freud; nguồn gốc của chữ này có trong bài chữ ego và học thuyết của Freud.
Nhà tâm lý khác bác sĩ tâm thần ở đâu?
| Nhà tâm lý học | Bác sĩ tâm thần | |
|---|---|---|
| Đào tạo | Ngành tâm lý học | Y khoa, sau đó chuyên khoa tâm thần |
| Cách hỗ trợ | Đánh giá, tham vấn, trị liệu bằng trò chuyện | Chẩn đoán bệnh, có thể điều trị bằng thuốc kết hợp trị liệu |
| Kê đơn thuốc | Thường không | Có |
Hai nghề thường phối hợp với nhau. Khi buồn bã, lo âu kéo dài ảnh hưởng đến việc học, giấc ngủ, nên tìm đến chuyên gia tâm lý hoặc bác sĩ để được đánh giá, thay vì tự chẩn đoán qua một bài trắc nghiệm trên mạng. Buổi gặp nhà trị liệu diễn ra thế nào thì xem ở bài khái niệm therapy và các buổi trị liệu.
Còn một chỗ hay bị hiểu nhầm: học tâm lý học không biến ai thành người “đọc được suy nghĩ”. Sinh viên ngành này học thống kê, phương pháp nghiên cứu, sinh lý thần kinh nhiều hơn người ta tưởng.
Ngành học, cách gọi và mấy điều nên biết
Tâm lý học tiếng Anh là gì?
Là psychology; nhà tâm lý học là psychologist. Đừng nhầm với psychiatry, tức tâm thần học, chuyên ngành y khoa của bác sĩ tâm thần.
Đối tượng nghiên cứu của tâm lý học là gì?
Là các hiện tượng tâm lý: cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy, cảm xúc, ý chí, nhân cách, cùng hành vi mà chúng điều khiển. Ngành nghiên cứu cả quy luật hình thành và biến đổi của các hiện tượng ấy.
Ngành tâm lý học ra trường làm gì?
Có thể làm tham vấn học đường, nhân sự, nghiên cứu thị trường, công tác xã hội, giảng dạy, nghiên cứu. Làm trị liệu lâm sàng thường cần học tiếp và thực hành có giám sát lâu năm.
Tâm lý học có phải là bói toán, đoán tính cách không?
Không. Tâm lý học là khoa học thực nghiệm, kết luận phải được kiểm chứng bằng dữ liệu. Những trò đoán tính qua nhóm máu, chữ kí hay cung hoàng đạo không thuộc ngành này.