Thơ Trần Đăng Khoa gắn với tuổi thơ của nhiều thế hệ người Việt: từ cậu bé làng quê viết “Hạt gạo làng ta”, “Mẹ ốm” khi chưa đầy mười tuổi đến người lính hải quân hát về Trường Sa. Thơ ông giản dị, trong trẻo mà vẫn có chiều sâu. Hãy cùng Văn VN điểm qua những bài thơ tiêu biểu, các tác phẩm đang học trong sách giáo khoa và nơi đọc toàn văn trên trang.
Đôi nét về nhà thơ Trần Đăng Khoa
- Tên: Trần Đăng Khoa (dùng tên thật làm bút danh).
- Năm sinh: 26/4/1958.
- Quê quán: huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương (nay thuộc thành phố Hải Phòng).
- Sự nghiệp: nhà thơ, nhà báo; từng là biên tập viên Tạp chí Văn nghệ Quân đội, Trưởng ban Văn học Nghệ thuật Đài Tiếng nói Việt Nam, Giám đốc đầu tiên của Hệ Phát thanh có hình VOVTV (2008), Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam khóa IX.
- Giải thưởng: Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật (2001); giải thơ báo Thiếu niên Tiền phong (1968, 1969, 1971); giải nhất báo Văn nghệ (1982).

Trần Đăng Khoa được gọi là “thần đồng thơ” từ rất sớm. Lên tám tuổi, ông đã có thơ đăng báo; năm 1968, khi mới mười tuổi, tập thơ đầu tay Từ góc sân nhà em được Nhà xuất bản Kim Đồng ấn hành. Những bài thơ viết ở góc sân, bờ ao, cánh đồng ven sông Kinh Thầy được bộ đội hành quân qua làng chép mang theo, được in báo và đọc trên đài, khiến tên tuổi cậu bé Nam Sách nhanh chóng quen thuộc với bạn đọc cả nước. Giai thoại cậu bé hơn mười tuổi góp ý đổi một câu trong bài “Ta đi tới” của Tố Hữu cũng thường được nhắc lại khi nói về ông.
Ngày 26/2/1975, khi đang học lớp 10 ở trường cấp 3 Nam Sách, Trần Đăng Khoa nhập ngũ. Sau ngày thống nhất, ông về Quân chủng Hải quân, từng có mặt ở chiến trường Tây Nam giai đoạn 1978 – 1979 và ra Trường Sa từ những năm đầu thập niên 1980. Ông theo học Trường Viết văn Nguyễn Du, rồi sang học tại Viện Văn học Thế giới M. Gorki (Nga). Trở về, ông làm biên tập viên Tạp chí Văn nghệ Quân đội; từ năm 2004 chuyển sang Đài Tiếng nói Việt Nam. Bạn đọc có thể tìm hiểu thêm quan niệm của ông qua bài phỏng vấn nhà thơ Trần Đăng Khoa bàn về dịch bệnh đăng trên Văn VN.
Xem tiểu sử tác giả Trần Đăng Khoa – cuộc đời, sự nghiệp, phong cách và nhận định.
Trần Đăng Khoa có những tác phẩm nào?
Sự nghiệp của Trần Đăng Khoa trải dài gần sáu mươi năm, gồm thơ thiếu nhi, trường ca, thơ về người lính biển, văn xuôi và tiểu luận. Danh mục dưới đây theo Wikipedia tiếng Việt và các nguồn báo chí đã đối chiếu:
Thơ và trường ca
- Từ góc sân nhà em (1968)
- Góc sân và khoảng trời (1968, tái bản nhiều lần)
- Hạt gạo làng ta (1969)
- Đi đánh thần Hạn (trường ca, 1970)
- Thơ Trần Đăng Khoa, tập 1 (1970) và tập 2 (1983)
- Trường ca Trừng phạt (1973)
- Khúc hát người anh hùng (trường ca, 1974)
- Trường ca Giông bão (1983)
- Bên cửa sổ máy bay (1985)
- Thơ tình người lính biển
Văn xuôi, tiểu luận
- Chân dung và đối thoại (tiểu luận phê bình, 1998)
- Đảo chìm (truyện – ký, 2000)
- Hầu chuyện Thượng đế (đàm thoại văn học, 2015)
- Đảo chìm Trường Sa (tuyển thơ văn, 2016)
Theo Wikipedia, Góc sân và khoảng trời là tập thơ in lần đầu năm 1968 với tên Từ góc sân nhà em; bản hoàn chỉnh gồm 107 bài thơ cùng trường ca “Đi đánh thần Hạn”, được tái bản khoảng 30 lần. Đây là “cuốn nhật ký bằng thơ” về làng quê Bắc Bộ thời chống Mỹ nhìn qua đôi mắt một đứa trẻ.
Những bài thơ tiêu biểu của Trần Đăng Khoa
Các tác phẩm của Trần Đăng Khoa còn trong thời hạn bảo hộ bản quyền, nên dưới đây Văn VN chỉ trích vài câu tiêu biểu; bạn đọc có thể mở đường dẫn để xem toàn văn hoặc bài soạn, bài phân tích tương ứng.
1/ Góc sân và khoảng trời
Bài thơ bốn câu lục bát này vừa là một bài thơ ngắn, vừa trở thành tên tập thơ nổi tiếng nhất của Trần Đăng Khoa. Chỉ có hai hình ảnh: góc sân nhỏ vừa xây và khoảng trời xanh mênh mông, nhưng chính khoảng cách giữa “góc sân” và “khoảng trời” cho thấy thế giới của một em bé làng quê đang mở rộng dần ra.
Thấy trời xanh biếc mênh mông
Cánh cò chớp trắng trên sông Kinh Thầy…
Chữ “chớp” là điểm sáng của bài: cánh cò không bay qua mà lóe lên rồi tắt trên nền trời, một cách quan sát rất nhanh, rất trẻ con. Sông Kinh Thầy chảy qua quê tác giả sẽ còn trở lại nhiều lần trong thơ ông.
Đọc toàn văn: Bài thơ Góc sân và khoảng trời (Trần Đăng Khoa).
2/ Hạt gạo làng ta (1968)
Theo Wikipedia, đây là tác phẩm được biết đến nhiều nhất của Trần Đăng Khoa, viết năm 1968 và được nhà thơ Xuân Diệu hiệu đính; năm 1971, nhạc sĩ Trần Viết Bính phổ nhạc thành bài hát cùng tên. Bài thơ kể hành trình làm ra hạt gạo ở làng quê thời chiến: có phù sa, hương sen, lời mẹ hát, có bão tháng Bảy, mưa tháng Ba, có cả những năm bom Mỹ trút trên mái nhà.
Hạt gạo làng ta
Có vị phù sa
Của sông Kinh Thầy
Có hương sen thơm
Thể thơ bốn chữ ngắn gọn như lời đồng dao, điệp khúc “Hạt gạo làng ta” mở đầu mỗi khổ khiến bài thơ dễ thuộc, dễ hát. Từ hạt gạo nhỏ bé, cậu bé nhìn thấy cả mồ hôi của mẹ, công sức của các bạn nhỏ chống hạn, bắt sâu và tình cảm hậu phương gửi ra tiền tuyến. Khổ kết gọi hạt gạo là “hạt vàng”, một cách nói giản dị mà đầy tự hào.
Đọc toàn văn và câu hỏi SGK: Hạt gạo làng ta – Tiếng Việt lớp 5 Kết nối tri thức.
3/ Mẹ ốm
Bài lục bát này (Thi Viện ghi năm 1970) là một trong những bài thơ về mẹ quen thuộc nhất với học sinh tiểu học. Người con quan sát căn nhà vắng tiếng cười khi mẹ ốm bằng những chi tiết rất đời thường:
Lá trầu khô giữa cơi trầu
Truyện Kiều gấp lại trên đầu bấy nay
Từ nỗi lo, bài thơ mở ra tình làng nghĩa xóm (cô bác đến thăm, người cho trứng, người cho cam) và lòng hiếu thảo của đứa con muốn làm mẹ vui bằng cách ngâm thơ, kể chuyện, “một mình con sắm cả ba vai chèo”. Câu kết “Mẹ là đất nước, tháng ngày của con” nâng hình ảnh người mẹ lên thành cả một thế giới. Đọc toàn văn: Bài thơ Mẹ ốm (Trần Đăng Khoa); lời giải SGK: Mẹ ốm – Tiếng Việt lớp 4.
4/ Đánh thức trầu
“Đánh thức trầu” in trong tập Góc sân và khoảng trời, kể chuyện cậu bé ra vườn hái trầu buổi tối. Theo quan niệm dân gian được bà và mẹ dạy lại, hái trầu ban đêm phải gọi trầu dậy, xin phép rồi mới hái vài lá. Cậu bé trò chuyện với cây trầu như với một người bạn:
Trầu ơi hãy tỉnh lại
Mở mắt xanh ra nào
Lá nào muốn cho tao
Thì mày chìa ra nhé
Cách xưng “mày – tao” thân mật, những câu hỏi lặp lại ở đầu mỗi khổ và phép nhân hóa khiến bài thơ vừa hồn nhiên vừa chứa một cách ứng xử đẹp: con người coi cây cỏ trong vườn cũng có tâm hồn. Bài thơ hiện nằm trong Ngữ văn 6 bộ Chân trời sáng tạo; xem Soạn bài Đánh thức trầu – Chân trời sáng tạo lớp 6.
5/ Sao không về Vàng ơi? (1967)
Theo báo Phụ nữ Việt Nam, bài thơ được viết năm 1967, khi Trần Đăng Khoa khoảng chín tuổi, sau khi chú chó mực của gia đình (được đặt tên là Vàng dù lông đen) mất tích sau một trận bom. Bài in trên báo Văn nghệ; nhà thơ Phạm Hổ đã sửa vài chữ, trong đó câu kết “Chó ơi là chó ơi” được đổi thành “Vàng ơi là Vàng ơi”. Điều thú vị là ít lâu sau, chú chó trở về.
Bài thơ đi từ kỉ niệm (con chó quấn quýt, vẫy đuôi, “bắt tay” cậu chủ) đến nỗi nhớ và day dứt khi nó không về. Nhà thơ Vũ Quần Phương khi bình bài thơ trên báo Nhân Dân đã khen sự tinh ý của cậu bé khi nhận ra cái đuôi là nơi con chó bộc lộ tình cảm rõ nhất. “Sao không về Vàng ơi?” hiện là văn bản tự đánh giá trong Ngữ văn 6 bộ Cánh diều.
6/ Trăng ơi… từ đâu đến?
Bài thơ năm chữ là chuỗi câu hỏi hồn nhiên của em bé trước vầng trăng: trăng đến từ cánh rừng xa, từ biển xanh, từ một sân chơi, từ lời mẹ ru hay từ đường hành quân…
Trăng ơi… từ đâu đến?
Hay từ cánh rừng xa
Trăng hồng như quả chín
Lửng lơ lên trước nhà
Những so sánh “trăng hồng như quả chín”, “trăng tròn như mắt cá” lấy từ chính vật quen thuộc quanh em, và câu hỏi cuối cùng dẫn về tình yêu đất nước: không nơi nào sáng hơn đất nước em. Xem bài học: Trăng ơi… từ đâu đến – Tiếng Việt lớp 4 và Trăng ơi… từ đâu đến? – Tiếng Việt lớp 5 Cánh diều.
7/ Cây dừa và những bài thơ về thiên nhiên làng quê
Trong Góc sân và khoảng trời, cây cối, con vật, ông trăng đều được nhân hóa như những người bạn. “Cây dừa” là ví dụ tiêu biểu:
Thân dừa bạc phếch tháng năm
Quả dừa – đàn lợn con nằm trên cao
Hình ảnh so sánh bất ngờ mà rất “nhà quê” ấy khiến bài thơ được chọn vào sách Tiếng Việt lớp 2. Đọc toàn văn bài thơ Cây dừa (Trần Đăng Khoa) và lời giải Cây dừa – Tiếng Việt lớp 2 Chân trời sáng tạo.
Cùng mạch ấy còn có nhiều bài đã có toàn văn trên Văn VN: Hoa lựu, Trăng sáng sân nhà em, Thơ câu cá, Cây bàng mùa đông và Ảnh Bác, bài thơ viết về tấm ảnh Bác Hồ treo trong nhà với lời dặn “Thấy tàu bay Mỹ nhớ ra hầm ngồi”. Bài “Thả diều” với hình ảnh cánh diều như trăng vàng, hạt cau, lưỡi liềm cũng được học ở tiểu học: Thả diều – Tiếng Việt lớp 2 Kết nối tri thức, Thả diều – Tiếng Việt lớp 3 Cánh diều.
8/ Lính đảo hát tình ca trên đảo (1982)
Theo Thi Viện, bài thơ viết tháng 5/1982 ở đảo Sơn Ca (quần đảo Trường Sa), in trong tập Bên cửa sổ máy bay (1985). Đây là bài thơ tiêu biểu cho chặng đường Trần Đăng Khoa làm người lính hải quân: một buổi văn nghệ trên đảo với sân khấu dựng tạm, ca sĩ và khán giả đều là lính.
Đá san hô kê lên thành sân khấu
Vài tấm tôn chôn mấy cánh gà
Em đừng trách bọn chúng anh tạm bợ
Chẳng phông màn nào chịu nổi gió Trường Sa
Giọng thơ hóm hỉnh, tếu táo (người hát lẫn người xem đều “trọc đầu” vì thiếu nước ngọt) nhưng ẩn phía sau là hiện thực gian khổ và tinh thần lạc quan của người lính đảo. Thể thơ tự do, lời thơ như lời trò chuyện với người yêu ở đất liền. Bài thơ hiện học trong Ngữ văn 10 bộ Cánh diều.
Tìm hiểu thêm: Tác giả – tác phẩm Lính đảo hát tình ca trên đảo, Phân tích, đánh giá bài thơ Lính đảo hát tình ca.
9/ Đợi mưa trên đảo Sinh Tồn
Cũng viết về Trường Sa đầu những năm 1980 và in trong tập Bên cửa sổ máy bay (1985), bài thơ tự do này ghi lại cảnh những người lính trên đảo Sinh Tồn khắc khoải chờ một cơn mưa giữa mùa khô, khi nước ngọt quý hơn tất cả. Những lời gọi mưa lặp đi lặp lại như điệp khúc cho thấy nỗi thèm khát nước đến da diết, nhưng cũng cho thấy ý chí bám trụ: người lính được ví với đá Trường Sa, bền bỉ giữa nắng gió.
Bài thơ được chọn làm văn bản “Đọc kết nối chủ điểm” trong Ngữ văn 12 bộ Chân trời sáng tạo, đặt cạnh các văn bản thông tin về tự nhiên và xã hội, giúp học sinh hình dung cụ thể hơn đời sống của người giữ đảo.
Tác phẩm của Trần Đăng Khoa trong sách giáo khoa Ngữ văn
Trần Đăng Khoa là một trong số ít tác giả có mặt ở gần như mọi cấp học của chương trình mới:
| Tác phẩm | Lớp – bộ sách | Vị trí trong sách |
|---|---|---|
| Đánh thức trầu | Ngữ văn 6 – Chân trời sáng tạo | Tập 1, bài 5, đọc kết nối chủ điểm |
| Sao không về Vàng ơi? | Ngữ văn 6 – Cánh diều | Tập 2, bài 7, tự đánh giá |
| Cùng nhà văn Tô Hoài ngắm phố phường Hà Nội | Ngữ văn 9 – Cánh diều | Tập 2, bài 8, văn bản thông tin |
| Lính đảo hát tình ca trên đảo | Ngữ văn 10 – Cánh diều | Tập 2, bài 7, thơ tự do |
| Đợi mưa trên đảo Sinh Tồn | Ngữ văn 12 – Chân trời sáng tạo | Tập 2, bài 9, đọc kết nối chủ điểm |
Bài soạn đã có: Soạn bài Lính đảo hát tình ca trên đảo – Cánh diều. Riêng “Cùng nhà văn Tô Hoài ngắm phố phường Hà Nội” không phải thơ mà là văn bản thông tin ghi lại cuộc trò chuyện giữa Trần Đăng Khoa và nhà văn Tô Hoài về phố phường Hà Nội.
Ở bậc tiểu học, thơ Trần Đăng Khoa xuất hiện dày hơn nữa: “Hạt gạo làng ta” (Tiếng Việt 5 Kết nối tri thức, xem thêm lời giải Bài 3: Hạt gạo làng ta), “Trăng ơi… từ đâu đến?” (Tiếng Việt 5 Cánh diều), “Thả diều” (Tiếng Việt 2 Kết nối tri thức, Tiếng Việt 3 Cánh diều), “Cây dừa” (Tiếng Việt 2 Chân trời sáng tạo); “Mẹ ốm” và “Trăng ơi… từ đâu đến?” từng in trong sách Tiếng Việt 4 chương trình cũ.
Phong cách thơ Trần Đăng Khoa
- Cái nhìn trẻ thơ mà tinh tế: thơ thời nhỏ lấy chất liệu từ góc sân, bờ ao, cánh đồng, nhưng quan sát rất chính xác và giàu liên tưởng.
- Chất dân gian: thể lục bát, bốn chữ, năm chữ, lối điệp khúc như đồng dao khiến thơ dễ thuộc, dễ phổ nhạc.
- Nhân hóa thế giới quanh mình: cây trầu, cây dừa, ông trăng, con chó đều được trò chuyện như người thân.
- Hơi thở thời đại: chiến tranh luôn hiện diện, từ bom Mỹ trên mái nhà làng Nam Sách đến gió cát Trường Sa, nhưng giọng thơ vẫn lạc quan, hóm hỉnh.
Có thể thấy, từ “thần đồng” viết cho thiếu nhi, Trần Đăng Khoa đã đi một chặng đường dài để trở thành nhà thơ của người lính biển và một cây bút đối thoại văn chương sắc sảo, nhưng điều làm nên sức sống bền lâu của thơ ông vẫn là sự chân thật.
Lời kết
Thơ Trần Đăng Khoa là cầu nối giữa tuổi thơ và đất nước: từ hạt gạo làng quê, lá trầu của mẹ đến sân khấu đá san hô ngoài đảo xa. Đọc lại những bài thơ ấy, người lớn tìm thấy tuổi thơ mình, còn học sinh hôm nay có thêm những trang văn gần gũi trong sách giáo khoa.
Xem thêm: Thơ Phạm Hổ viết cho thiếu nhi | Thơ Võ Quảng | Thơ Phạm Tiến Duật
Xem thêm: thơ Y Phương, thơ Vũ Quần Phương, thơ Tế Hanh.



