Vội vàng là bài thơ tiêu biểu nhất của Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám, một “tuyên ngôn sống” của cái tôi Thơ mới: yêu đời, ham sống và muốn tận hưởng trọn vẹn tuổi trẻ trước sự trôi chảy của thời gian. Văn bản được học ở Bài 9 sách Ngữ văn 12 Kết nối tri thức (tập hai). Bài viết tổng hợp nội dung văn bản, thông tin tác giả Xuân Diệu, xuất xứ, thể loại, bố cục, giá trị nội dung – nghệ thuật, ý nghĩa nhan đề và sơ đồ tư duy để các em ôn tập nhanh.
Trả lời câu hỏi SGK Kết nối tri thức: Soạn bài Vội vàng (Xuân Diệu) – Ngữ văn 12 Kết nối tri thức (trang 93–95)
Nội dung văn bản Vội vàng
Bài thơ gồm 39 câu, có lời đề tặng Vũ Đình Liên. Vì tác phẩm của Xuân Diệu vẫn trong thời hạn bảo hộ bản quyền, dưới đây Văn VN chỉ tóm lược nội dung và trích một số câu tiêu biểu; em đọc toàn văn trong SGK Ngữ văn 12 Kết nối tri thức.

Mở đầu bài thơ là bốn câu năm chữ bày tỏ một ước muốn “ngông” – đoạt quyền tạo hóa để giữ lại vẻ đẹp của cuộc đời:
Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất;
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi.
Tiếp đó, câu thơ dài ra thành tám chữ, điệp ngữ “này đây” dồn dập bày ra một “bữa tiệc” mùa xuân nơi trần thế: ong bướm, hoa đồng nội, lá cành tơ, khúc tình si của yến anh, ánh sáng “chớp hàng mi”. Nhà thơ đưa ra một so sánh táo bạo “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần” rồi bất ngờ chuyển giọng: niềm sung sướng chỉ trọn “một nửa”, vì ông “không chờ nắng hạ mới hoài xuân”.
Đoạn thứ hai là những suy tư về thời gian. Xuân Diệu lập luận bằng các cặp đối lập:
Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,
Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.
Mùa xuân của đất trời có thể tuần hoàn, nhưng tuổi trẻ của con người thì không trở lại. Từ nhận thức ấy, cả không gian như nhuốm vị chia li: tháng năm “rớm vị chia phôi”, sông núi “than thầm tiễn biệt”, gió và chim cũng như hờn giận, lo sợ sự phai tàn.
Đoạn cuối là lời giục giã “Mau đi thôi!” và khát khao tận hưởng mãnh liệt, thể hiện qua điệp cấu trúc “Ta muốn…” với các động từ tăng tiến: ôm, riết, say, thâu, cắn. Bài thơ khép lại bằng câu thơ nổi tiếng: “Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!”
Thông tin tác giả Xuân Diệu
Xuân Diệu (1916 – 1985), tên khai sinh là Ngô Xuân Diệu, sinh ở Gò Bồi, xã Tùng Giản, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định; cha quê ở Can Lộc, Hà Tĩnh, mẹ người Bình Định. Ông học ở Quy Nhơn, Huế, Hà Nội; sau khi đỗ tú tài từng đi dạy tư, làm viên chức ở Mĩ Tho rồi ra Hà Nội sống bằng nghề viết văn. Xuân Diệu là thành viên của Tự lực văn đoàn, tham gia Mặt trận Việt Minh từ năm 1944; sau Cách mạng tháng Tám, ông hoạt động văn nghệ và là một trong những cây bút chủ chốt của nền văn học cách mạng.
Trước Cách mạng, Xuân Diệu là nhà thơ tiêu biểu nhất của phong trào Thơ mới; Hoài Thanh gọi ông là “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”. Thơ ông mang đến một nguồn sống dạt dào, một cái tôi khát khao giao cảm với đời, một quan niệm thẩm mĩ mới lấy con người – tuổi trẻ – tình yêu làm chuẩn mực của cái đẹp, cùng những cách tân táo bạo về ngôn từ, hình ảnh. Ông được mệnh danh là “ông hoàng thơ tình” của thi ca Việt Nam.
Sự nghiệp của Xuân Diệu đồ sộ, gồm thơ, văn xuôi, tiểu luận phê bình và nghiên cứu văn học. Tác phẩm tiêu biểu: các tập thơ Thơ thơ (1938), Gửi hương cho gió (1945), Riêng chung (1960), Mũi Cà Mau – Cầm tay (1962); tập văn xuôi Phấn thông vàng (1939); công trình nghiên cứu Các nhà thơ cổ điển Việt Nam. Năm 1996, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
Tìm hiểu thêm: phong cách sáng tác của Xuân Diệu và những tác phẩm tiêu biểu của Xuân Diệu.
Thông tin tác phẩm Vội vàng
Các mục dưới đây trả lời những câu hỏi thường gặp khi học bài thơ.
Xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác bài thơ Vội vàng
Vội vàng in trong tập Thơ thơ (1938) – tập thơ đầu tay đã đưa Xuân Diệu lên vị trí hàng đầu của phong trào Thơ mới. Bài thơ ra đời trong giai đoạn 1932 – 1945, khi “cái tôi” cá nhân được giải phóng trong thơ ca; đồng thời đó cũng là thời kì xã hội thuộc địa ngột ngạt, nhiều thanh niên trí thức rơi vào tâm trạng bế tắc. Giữa bối cảnh ấy, Xuân Diệu cất lên tiếng nói yêu đời, ham sống đến cuồng nhiệt.
Thể loại, phương thức biểu đạt
- Thể loại: thơ trữ tình, thuộc phong trào Thơ mới; thể thơ tự do, kết hợp câu năm chữ (bốn câu đầu), câu tám chữ và có cả câu ba chữ (“Ta muốn ôm”).
- Phương thức biểu đạt chính: biểu cảm, kết hợp nghị luận (lập luận về thời gian, tuổi trẻ).
- Nhân vật trữ tình: cái tôi của nhà thơ, xưng “tôi” ở hai đoạn đầu, chuyển sang “ta” ở đoạn cuối.
Vội vàng có mấy phần? Bố cục bài thơ
Bài thơ có 3 phần:
- Phần 1 (13 câu đầu): tình yêu tha thiết với cuộc sống trần thế – khát vọng níu giữ vẻ đẹp và bức tranh “thiên đường trên mặt đất”.
- Phần 2 (câu 14 đến câu 29): quan niệm mới về thời gian, tuổi trẻ và nỗi băn khoăn trước sự ngắn ngủi của đời người.
- Phần 3 (10 câu cuối): lời giục giã sống vội vàng, cuống quýt để tận hưởng tuổi xuân.
Ý nghĩa nhan đề Vội vàng
“Vội vàng” không có nghĩa là sống hời hợt, gấp gáp chạy theo hưởng thụ. Nhan đề thể hiện một thái độ sống tích cực: vì thời gian một đi không trở lại, con người phải biết quý trọng từng khoảnh khắc, sống mãnh liệt, sống hết mình, nhất là trong những năm tháng tuổi trẻ. Nhan đề cũng là “chìa khóa” nối ba phần bài thơ: yêu đời – ý thức về thời gian – giục giã sống vội vàng.
Giá trị nội dung
- Thể hiện lòng yêu đời, yêu sống đến cuồng nhiệt; phát hiện “thiên đường” ngay trên mặt đất, trong cuộc sống quanh ta.
- Nêu quan niệm mới về thời gian tuyến tính, một đi không trở lại, và về tuổi trẻ như giá trị quý nhất của đời người.
- Đề xuất một quan niệm nhân sinh mới mẻ, tích cực: sống cao độ, tận hưởng những giá trị đẹp đẽ của cuộc đời khi còn tuổi trẻ.
- Ẩn sau niềm say mê là nỗi lo âu, tiếc nuối – tâm trạng tiêu biểu của cái tôi Thơ mới.
Giá trị nghệ thuật
- Kết hợp nhuần nhuyễn mạch cảm xúc sôi nổi với mạch luận lí chặt chẽ.
- Giọng điệu say mê, sôi nổi, lúc hối hả, lúc ngậm ngùi; nhịp thơ biến đổi linh hoạt theo cảm xúc.
- Hình ảnh mới lạ, táo bạo; biện pháp so sánh chuyển đổi cảm giác (“Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”), nhân hóa, điệp ngữ, điệp cấu trúc, động từ mạnh tăng tiến.
- Câu thơ dài ngắn đa dạng, cách ngắt câu bằng dấu chấm giữa dòng tạo nên những bước ngoặt cảm xúc.
Sơ đồ tư duy Vội vàng
Sơ đồ dưới đây tóm tắt 6 nhóm kiến thức trọng tâm của bài thơ.

Lời kết
Vội vàng là lời tự bạch của một hồn thơ “ham sống” bậc nhất trong văn học Việt Nam. Khi học bài thơ, các em cần nắm chắc bố cục ba phần, hiểu quan niệm về thời gian và tuổi trẻ của Xuân Diệu, đồng thời lí giải đúng ý nghĩa tích cực của lối sống “vội vàng” – sống hết mình chứ không phải sống gấp.
Để luyện kĩ năng viết theo yêu cầu của bài học, em có thể xem dàn ý bài phát biểu trong lễ phát động một phong trào.
Bài ôn tập học kì II Ngữ văn 12 Kết nối tri thức giúp em ôn nhanh kiến thức đọc, viết và tiếng Việt của cả học kì.
Xem thêm: