Chủ nghĩa lãng mạn là trào lưu văn học, nghệ thuật và cũng là phương pháp sáng tác hình thành ở châu Âu cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX, đề cao cảm xúc, trí tưởng tượng, cái tôi cá nhân và khát vọng tự do hơn lí trí, quy tắc. Trong văn học Việt Nam, chủ nghĩa lãng mạn kết tinh rõ nhất ở phong trào Thơ mới và tiểu thuyết Tự lực văn đoàn giai đoạn 1930–1945.
| Khái niệm | Trào lưu và phương pháp sáng tác lấy cảm xúc, mơ ước, cái tôi làm trung tâm |
| Nghĩa tên gọi | “Lãng mạn” (浪漫) theo chiết tự là sóng tràn bờ; tiếng Anh là Romanticism |
| Nơi và lúc ra đời | Tây Âu, sau Cách mạng Pháp 1789; rực rỡ nửa đầu thế kỉ XIX |
| Dấu hiệu nhận biết | Cái tôi bộc lộ mạnh, cảnh và người khác thường, tương phản gay gắt, giọng say mê hoặc u buồn |
| Tác giả tiêu biểu | Victor Hugo, Byron, Goethe thời trẻ; ở Việt Nam là Xuân Diệu, Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Nguyễn Tuân trước 1945 |

Chủ nghĩa lãng mạn: sóng tràn bờ lí trí?
Trước khi có chủ nghĩa lãng mạn, văn học châu Âu chịu sự chi phối lâu dài của chủ nghĩa cổ điển: tôn sùng lí trí, đặt ra những quy tắc chặt chẽ cho kịch, cho thơ, cho cả việc chọn đề tài. Cách mạng Pháp năm 1789 với khẩu hiệu “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” làm rung chuyển cả châu lục. Nhưng xã hội sau cách mạng không đẹp như người ta mong. Nhiều tầng lớp vỡ mộng, người thì nuối tiếc thời xưa, người thì khao khát một tương lai khác hẳn hiện tại.
Chủ nghĩa lãng mạn ra đời từ chính sự bất mãn ấy. Nhà văn lãng mạn không chịu chấp nhận thực tại như nó là; họ tìm lối thoát vào thế giới tưởng tượng, vào thiên nhiên hoang sơ, vào quá khứ, hoặc vẽ ra một xã hội lí tưởng. Chữ Hán 浪漫 dịch cho từ này rất khéo: sóng tràn bờ, tức là cảm xúc vượt qua mọi khuôn khổ.
Từ các nước Tây Âu, trào lưu lan sang khắp thế giới. Phải đến những năm 1930, văn học Việt Nam mới có một trào lưu lãng mạn đúng nghĩa, khi lớp nhà văn trẻ được học Tây, đọc thơ Pháp và muốn nói tiếng nói của cái tôi riêng.
“Lãng mạn” ngoài đời và chủ nghĩa lãng mạn trên trang sách
| Cách dùng | Nghĩa | Ví dụ |
|---|---|---|
| Lãng mạn (tính từ đời thường) | Mơ mộng, tình tứ, giàu cảm xúc | Một buổi hẹn hò lãng mạn dưới mưa |
| Tính chất lãng mạn, cảm hứng lãng mạn | Nét vươn lên trên thực tại, có thể xuất hiện ở bất kì thời nào | Cảm hứng lãng mạn trong thơ kháng chiến |
| Chủ nghĩa lãng mạn | Một trào lưu, một phương pháp sáng tác có lịch sử và nguyên tắc riêng | Victor Hugo, phong trào Thơ mới |
Phân biệt được ba tầng này sẽ tránh được lỗi rất hay gặp: thấy bài thơ tình là gọi “thơ lãng mạn chủ nghĩa”. Nghĩa đời thường của từ và các sắc thái của nó được giải riêng ở bài lãng mạn là gì.
Năm đặc điểm của chủ nghĩa lãng mạn
- Cái tôi được đặt ở trung tâm. Nhà văn bày tỏ thẳng nỗi buồn, niềm say mê, sự cô đơn của mình. Thơ trữ tình và tiểu thuyết là hai thể loại được ưa chuộng nhất.
- Đề cao tưởng tượng và mơ ước. Thế giới trong tác phẩm thường là thế giới mộng, khác xa đời thường tẻ nhạt: rừng sâu, biển cả, cõi tiên, thời vàng son đã mất.
- Nhân vật và hoàn cảnh phi thường. Nhân vật lãng mạn có tâm hồn khác người, tình yêu mãnh liệt, số phận đầy biến cố.
- Bút pháp tương phản. Đặt cạnh nhau cái đẹp và cái xấu, ánh sáng và bóng tối, cái cao cả và cái thấp hèn. Quasimodo dị dạng mà tâm hồn cao thượng trong Nhà thờ Đức Bà Paris là ví dụ kinh điển.
- Yêu thiên nhiên, khát khao tự do. Thiên nhiên là nơi trú ẩn của tâm hồn; tự do là đòi hỏi cả trong đời sống lẫn trong cách viết, nên văn lãng mạn phá bỏ nhiều quy tắc cũ.
Lãng mạn tích cực và lãng mạn tiêu cực
Các giáo trình văn học nước ngoài từng dùng ở Việt Nam thường chia chủ nghĩa lãng mạn châu Âu thành hai khuynh hướng. Cách chia này mang dấu ấn của một thời, nhưng vẫn hay gặp trong tài liệu:
| Khuynh hướng | Thái độ | Tác phẩm hay được dẫn |
|---|---|---|
| Lãng mạn tiêu cực | Quay lưng với hiện tại, tìm về quá khứ, cõi mộng, nỗi buồn khép kín | Nỗi đau của chàng Werther (Goethe), René (Chateaubriand) |
| Lãng mạn tích cực | Không chấp nhận thực tại nhưng hướng tới tương lai, đấu tranh cho tự do, nhân đạo | Những người khốn khổ, Nhà thờ Đức Bà Paris (Victor Hugo); thơ Byron |
Hiện nhiều nhà nghiên cứu thận trọng hơn với cách gọi “tiêu cực”, vì những trang buồn của Goethe hay Chateaubriand vẫn có giá trị nghệ thuật lớn.
Chủ nghĩa lãng mạn qua Victor Hugo và Thơ mới
Victor Hugo – lá cờ của lãng mạn Pháp
Hugo (sinh năm 1802) vừa là nhà thơ, nhà viết kịch vừa là tiểu thuyết gia. Vở kịch Hernani gây náo động sân khấu Paris vì phá bỏ quy tắc kịch cổ điển. Tiểu thuyết Nhà thờ Đức Bà Paris (1831) và Những người khốn khổ (1862) cho thấy đủ các nét lãng mạn: nhân vật phi thường, tương phản mạnh, lòng tin vào sức cảm hóa của tình thương.
Ở Việt Nam: Thơ mới, Tự lực văn đoàn và Nguyễn Tuân
Khoảng 1930–1945, chủ nghĩa lãng mạn Việt Nam có ba dòng nổi bật. Thơ mới với Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử nói tiếng nói cái tôi say mê và u buồn. Tiểu thuyết của Nhất Linh, Khái Hưng đặt ra luận đề giải phóng cá nhân. Văn xuôi trữ tình của Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh nhẹ nhàng, mơ màng.
Nguyễn Tuân trước 1945 thường được xếp vào dòng lãng mạn với cái tôi tài hoa, say mê những vẻ đẹp “vang bóng một thời”. Truyện Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân có cảnh cho chữ trong ngục tối, ánh đuốc đỏ rực soi trên tấm lụa trắng: đúng kiểu tương phản sáng – tối, cao cả – thấp hèn của bút pháp lãng mạn. Đề đọc hiểu đầy đủ có ở bài soạn Chữ người tử tù (Cánh diều).
Một nhánh lãng mạn khác của châu Âu là tiểu thuyết kinh dị lâu đài cổ, có thể xem thêm ở bài văn học gothic.
Thực hành: nhận ra chất lãng mạn
Câu 1: Chủ nghĩa lãng mạn ra đời trong hoàn cảnh nào?
Đáp án: Ở Tây Âu, sau Cách mạng Pháp 1789, khi nhiều tầng lớp thất vọng với xã hội mới, muốn thoát khỏi thực tại và phản ứng lại chủ nghĩa cổ điển đề cao lí trí.
Câu 2: Câu nào dùng “lãng mạn” theo nghĩa thuật ngữ văn học?
a) Anh ấy tặng hoa bất ngờ, thật lãng mạn. b) Thơ mới là thành tựu lớn của trào lưu lãng mạn 1932–1945.
Đáp án: Câu b. Câu a dùng nghĩa đời thường (tình tứ, mơ mộng).
Câu 3: Chi tiết tương phản nào trong Chữ người tử tù thể hiện bút pháp lãng mạn?
Đáp án: Cảnh cho chữ: ánh sáng đỏ rực của bó đuốc đối lập với buồng giam tối tăm, bẩn thỉu; cái đẹp, cái thiên lương đối lập với chốn ngục tù. Đó là bút pháp tương phản, đề cao cái đẹp phi thường.
Câu 4: Kể tên hai tác phẩm lãng mạn của Victor Hugo.
Đáp án: Nhà thờ Đức Bà Paris, Những người khốn khổ (hoặc vở kịch Hernani).
Khi phân tích, đừng gắn nhãn “lãng mạn” chỉ vì bài viết có trăng, có hoa. Hãy tìm xem cái tôi trong đó có vượt lên, có đối lập với thực tại hay không.
Lãng mạn chủ nghĩa giữa các trường phái khác
Chủ nghĩa lãng mạn trong văn học Việt Nam gồm những ai?
Tiêu biểu là các nhà thơ mới (Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Chế Lan Viên), các cây bút Tự lực văn đoàn (Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam) và Nguyễn Tuân giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám.
Chủ nghĩa lãng mạn khác chủ nghĩa hiện thực ở điểm nào?
Lãng mạn tái tạo đời sống theo mơ ước, cảm xúc của tác giả; hiện thực tái hiện đời sống như nó vốn có, khách quan và cụ thể. Lãng mạn thích cái phi thường, hiện thực chú ý cái bình thường, điển hình.
Chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa cổ điển có quan hệ gì?
Lãng mạn ra đời phần lớn như phản ứng chống lại cổ điển. Cổ điển đề cao lí trí, quy tắc, đề tài cao quý; lãng mạn đề cao cảm xúc, tự do sáng tạo và mở cửa cho mọi đề tài, mọi tầng lớp con người.
Romanticism có phải là chủ nghĩa lãng mạn không?
Đúng. Romanticism (tiếng Anh) hay romantisme (tiếng Pháp) là tên gốc của trào lưu; tiếng Việt dịch là chủ nghĩa lãng mạn, có khi gọi là trào lưu lãng mạn hoặc văn học lãng mạn.