Bút danh của ông ghép từ hai địa danh: sông Tô Lịch và phủ Hoài Đức, nơi cậu bé Nguyễn Sen lớn lên. Tô Hoài (1920 – 2014) là nhà văn của Dế Mèn phiêu lưu ký, Vợ chồng A Phủ và hơn một trăm đầu sách viết trong hơn bảy mươi năm cầm bút, từ truyện đồng thoại, truyện miền núi đến hồi ký và tiểu thuyết về Hà Nội. Ông là Tổng thư ký đầu tiên của Hội Nhà văn Việt Nam và được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt I năm 1996.
Nguyễn Sen, làng Nghĩa Đô và những năm làm thuê

| Tên thật | Nguyễn Sen |
| Bút danh | Tô Hoài; ngoài ra còn ký Mai Trang, Mắt Biển, Thái Yên, Vũ Đột Kích, Hồng Hoa… |
| Năm sinh – năm mất | 27/9/1920 – 6/7/2014 |
| Quê quán | Quê nội thôn Cát Động, thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai; lớn lên ở quê ngoại làng Nghĩa Đô, huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội) |
| Thể loại | Truyện đồng thoại, truyện ngắn, tiểu thuyết, hồi ký, bút ký, kinh nghiệm sáng tác |
| Tác phẩm tiêu biểu | Dế Mèn phiêu lưu ký (1941), O chuột (1942), Truyện Tây Bắc (1953), Miền Tây (1967), Cát bụi chân ai (1992), Ba người khác (2006) |
| Giải thưởng | Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt I, 1996); Giải Bùi Xuân Phái – Vì tình yêu Hà Nội (2010) |
| Trong SGK hiện hành | Bài học đường đời đầu tiên (trích Dế Mèn phiêu lưu ký), lớp 6 cả ba bộ sách |
Ông sinh ở quê nội Thanh Oai trong một gia đình thợ thủ công, nhưng tuổi thơ gắn với làng Nghĩa Đô bên quê ngoại. Cái làng ấy về sau đi vào rất nhiều trang văn của ông, từ Quê người đến Cát bụi chân ai.
Đến tuổi thanh niên, ông phải đi làm đủ việc để kiếm sống: dạy trẻ, bán hàng, làm kế toán cho hiệu buôn, có những quãng thất nghiệp. Những ngày lăn lộn ấy cho ông vốn sống về người nghèo thành thị và vùng ven đô mà các tập truyện đầu tay ghi lại khá đậm.
Dế Mèn phiêu lưu ký: truyện dài của chàng trai hai mươi tuổi
Bảo tàng Văn học Việt Nam ghi Tô Hoài viết tác phẩm đầu tay Dế Mèn phiêu lưu ký năm 1940; sách in năm 1941. Một chú dế cường tráng, kiêu căng, gây ra cái chết của Dế Choắt rồi bước vào chuyến phiêu lưu dài để trưởng thành: câu chuyện viết cho thiếu nhi ấy được tái bản không biết bao nhiêu lần. Theo VnExpress, đến khi ông mất, truyện đã được dịch ra gần 40 thứ tiếng.
Cùng những năm đó, ông in liền mấy tập truyện ngắn và tiểu thuyết về người dân ven đô: Giăng thề (1941), O chuột (1942), Quê người (Bảo tàng Văn học ghi 1941, Wikipedia ghi 1942), Nhà nghèo (1944) và tập hồi ký Cỏ dại (1944). Chuyện loài vật và chuyện làng quê là hai mạch chảy song song trong sáng tác của ông ngay từ đầu.
Đoạn trích quen thuộc nhất của Dế Mèn phiêu lưu ký là Bài học đường đời đầu tiên; học sinh lớp 5 còn gặp cuốn sách trong bài giới thiệu sách Dế Mèn phiêu lưu kí.
Báo Cứu quốc, Truyện Tây Bắc và Vợ chồng A Phủ
Năm 1943, Tô Hoài tham gia Hội Văn hóa cứu quốc. Từ 1945 đến 1952, ông làm phóng viên báo Cứu quốc (cơ quan của Tổng bộ Việt Minh). Suốt kháng chiến chống Pháp, phần lớn sức lực của ông dành cho nghề báo, nhưng những chuyến đi trong kháng chiến, trong đó có chuyến lên Tây Bắc, đã mở cho ông một vùng đất văn chương mới.
Truyện Tây Bắc (1953) được giải nhất tiểu thuyết của Hội Văn nghệ Việt Nam năm 1956. Truyện ngắn nổi tiếng nhất trong tập là Vợ chồng A Phủ, kể về Mị, cô con dâu gạt nợ nhà thống lý, và A Phủ, chàng trai mồ côi phải đi ở trừ nợ. Truyện từng là bài học quan trọng của Ngữ văn 12 chương trình cũ; bạn đọc ôn thi có thể xem các mẫu mở bài Vợ chồng A Phủ và kết bài Vợ chồng A Phủ.
Mảng miền núi còn được nối dài bằng tiểu thuyết Miền Tây (1967), tác phẩm được Giải thưởng Hoa Sen của Hội Nhà văn Á – Phi năm 1970, và cuốn Nhật ký vùng cao (1969). Từ năm 1957 đến 1963, ông là Tổng thư ký đầu tiên của Hội Nhà văn Việt Nam, hội viên từ ngày Hội thành lập.
Người kể chuyện Hà Nội: từ Chuyện cũ Hà Nội đến Cát bụi chân ai
Nếu thiếu nhi nhớ Tô Hoài qua Dế Mèn, học sinh nhớ ông qua Mị và A Phủ, thì người Hà Nội nhớ ông như một cuốn sổ tay sống về thành phố. Ông viết về phố phường, nghề thủ công, lễ tết, những con người vô danh của đất kinh kỳ trong Chuyện cũ Hà Nội (Bảo tàng Văn học ghi được Giải thưởng Thăng Long năm 1980), Những ngõ phố, người đường phố (1980), Quê nhà (1981) và tập tạp văn in sau khi ông mất Giữ gìn 36 phố phường (2017).
Sự hiểu biết ấy được người đương thời ghi nhận theo cùng một hình ảnh. Nhà thơ Trần Đăng Khoa, theo Wikipedia, ví ông như một pho sách sống về Hà Nội và gọi ông là nhà Hà Nội học dù ông không làm nghiên cứu; khi ông mất, báo Tiền Phong cũng đặt tít bài tưởng niệm là khép lại một pho từ điển sống về Hà Nội.
Ở tuổi bảy mươi, ông chuyển sang hồi ký với giọng kể thẳng thắn hiếm thấy: Cát bụi chân ai (1992) viết về giới văn nghệ sĩ cùng thời, Chiều chiều (Wikipedia ghi 1999, Bảo tàng Văn học ghi 2000) nối tiếp mạch hồi ức ấy. Năm 2010, ông nhận Giải Bùi Xuân Phái – Vì tình yêu Hà Nội. Sách Ngữ văn 9 Cánh diều có bài phỏng vấn của Trần Đăng Khoa với ông, xem soạn bài Cùng nhà văn Tô Hoài ngắm phố phường Hà Nội.
Cuốn gây tiếng vang nhất những năm cuối là tiểu thuyết Ba người khác, in năm 2006, lấy bối cảnh cải cách ruộng đất. Wikipedia ghi sách đã viết xong từ năm 1992, mười bốn năm sau mới được in.
Hơn một trăm đầu sách, chia theo từng mảng
Khi qua đời, Tô Hoài để lại hơn một trăm tác phẩm. Xếp theo thể loại sẽ dễ thấy độ rộng của ông:
| Mảng | Tác phẩm tiêu biểu |
|---|---|
| Viết cho thiếu nhi | Dế Mèn phiêu lưu ký (1941), Truyện Nỏ thần (2003), Mẹ mìn bố mìn (2007), Nhà Chử (2012) |
| Truyện ngắn | Giăng thề (1941), O chuột (1942), Nhà nghèo (1944), Núi Cứu quốc (1948), Xuống làng (1950), Vỡ tỉnh (1962), Người ven thành (1972) |
| Tiểu thuyết | Mười năm (1957), Miền Tây (1967), Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ (1971), Quê nhà (1981), Nhớ Mai Châu (1988), Ba người khác (2006), Đảo hoang (2011) |
| Hồi ký, bút ký | Cỏ dại (1944), Tự truyện (1978), Cát bụi chân ai (1992), Chuyện cũ Hà Nội, Những ký ức không chịu ngủ yên (2017) |
| Kinh nghiệm viết văn | Một số kinh nghiệm viết văn của tôi (1959), Người bạn đọc ấy (1963), Sổ tay viết văn (1977), Nghệ thuật và phương pháp viết văn (1997) |
Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 1996 được trao cho cả một cụm tác phẩm trải từ Xóm giếng, Nhà nghèo, O chuột, Dế Mèn phiêu lưu ký đến Truyện Tây Bắc, Miền Tây, Vợ chồng A Phủ và Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ. Tuyển chọn những cuốn đáng đọc nhất có ở trang tác phẩm Tô Hoài.
Về lối viết, có thể tóm trong một câu: một người quan sát tinh, kể chuyện hóm hỉnh, ưa chi tiết đời thường và phong tục; phần phân tích đầy đủ nằm ở bài quan điểm sáng tác và phong cách nghệ thuật của Tô Hoài.
Tô Hoài trong sách giáo khoa Ngữ văn
| Văn bản | Sách – bài học | Trên Văn VN |
|---|---|---|
| Bài học đường đời đầu tiên (trích Dế Mèn phiêu lưu ký) | Ngữ văn 6 Kết nối tri thức, tập 1 – Bài 1; Ngữ văn 6 Chân trời sáng tạo, tập 1 – Bài 4; Ngữ văn 6 Cánh diều, tập 2 – Bài 6 | Soạn bài · Tác giả – tác phẩm · Tóm tắt · Mở bài, kết bài |
| Cùng nhà văn Tô Hoài ngắm phố phường Hà Nội (Trần Đăng Khoa phỏng vấn) | Ngữ văn 9 Cánh diều, tập 2 – Bài 8 | Đã dẫn ở mục trên |
| Vợ chồng A Phủ | Ngữ văn 12 chương trình cũ | Mở bài, kết bài (đã dẫn ở mục trên) |
Với học sinh lớp 6, nhân vật Dế Mèn thường được hỏi về bài học từ thói kiêu căng và cái chết của Dế Choắt; bài phân tích nhân vật Dế Mèn đi kỹ vào điểm này.
Bảy mươi năm cầm bút và những ngày cuối
Tô Hoài viết đến gần cuối đời: truyện thiếu nhi Nhà Chử và tập truyện ngắn Truyện li kì cùng in năm 2012, khi ông đã ngoài chín mươi. Ông mất ngày 6/7/2014 tại Hà Nội, ở tuổi 94 (báo chí lúc ấy tính theo tuổi ta là 95).
Theo Wikipedia, năm 2015, con cháu ông mở hiệu sách Dế Mèn ngay trong căn phòng từng là thư phòng của nhà văn ở khu tập thể Nghĩa Tân. Một hiệu sách nhỏ mang tên nhân vật đầu tay, đặt ở nơi ông ngồi viết những trang cuối cùng: khó có cách tưởng nhớ nào hợp với Tô Hoài hơn.
Các giải thưởng ghi trong bảng đầu bài lấy theo Bảo tàng Văn học Việt Nam, VnExpress và Wikipedia. Riêng năm Giải A của Hội Văn nghệ Hà Nội cho tiểu thuyết Quê nhà, hai nguồn ghi khác nhau (1967 và 1970) trong khi sách lại in năm 1981, nên giải này chưa được đưa vào bảng.