Tiểu luận là một bài nghiên cứu, bàn luận có quy mô nhỏ về một vấn đề văn học, khoa học hay xã hội, trong đó người viết tự nêu vấn đề, lập luận và đưa ra nhận định của riêng mình. Từ này có hai chỗ dùng: trong văn học, tiểu luận là một thể văn nghị luận (tương ứng essay); ở đại học, bài tiểu luận là bài viết tập nghiên cứu sau một môn học.
| Nghĩa ngắn | Bài nghiên cứu, bàn luận nhỏ về một vấn đề; bài tập nghiên cứu bước đầu của sinh viên |
| Gốc từ | Hán Việt 小論: tiểu (nhỏ) + luận (bàn bạc, lí giải) |
| Thuộc | Loại văn nghị luận; trong nhà trường, thuộc nhóm bài viết học thuật |
| Dấu hiệu nhận biết | Một vấn đề được tác giả tự chọn, có luận điểm, dẫn chứng và tiếng nói riêng của người viết |
| Tiếng Anh | Essay (thể văn); term paper, essay (bài tiểu luận môn học) |

Tiểu luận trong từ điển và trong lí luận văn học
Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê) giảng tiểu luận là danh từ với hai nghĩa: một bài nghiên cứu nhỏ bàn về một vấn đề văn học, khoa học, chính trị, xã hội; và một bài viết nhỏ có tính chất bước đầu tập nghiên cứu, như trong câu hướng dẫn sinh viên viết tiểu luận. Hai nghĩa ấy khớp đúng với hai nơi người ta hay gặp chữ này: trang sách phê bình và giảng đường.
Chiết tự thì rất dễ nhớ. Tiểu (小) là nhỏ, như trong tiểu thuyết, tiểu sử. Luận (論) là bàn bạc, lí giải cho ra lẽ, như trong bình luận, nghị luận, lí luận. Tiểu luận là “bàn luận ở khổ nhỏ”: không ôm cả một ngành, chỉ đào sâu một vấn đề.
Ở phương Tây, thể văn này gắn với tập Essais của Michel de Montaigne in năm 1580. Chữ essai trong tiếng Pháp nghĩa là “sự thử”: người viết thử suy nghĩ về một đề tài bằng chính kinh nghiệm và cách nhìn của mình. Tinh thần “thử nghĩ” ấy là chỗ phân biệt tiểu luận với một chuyên luận đồ sộ. Vì cùng họ với văn nghị luận, nên nắm trước đặc điểm chung của văn nghị luận sẽ dễ hiểu tiểu luận hơn.
Tiểu luận văn chương và tiểu luận ở giảng đường
Tiểu luận như một thể văn
Đây là loại bài được in trên báo, tạp chí hoặc gom thành sách. Tác giả là nhà văn, nhà phê bình, nhà nghiên cứu; đề tài có thể là một trào lưu thơ, một vấn đề đạo đức hay chuyện đọc sách. Bài vẫn có lập luận chặt, nhưng giọng văn mang dấu ấn cá nhân rõ, đôi khi rất giàu hình ảnh. Wikipedia tiếng Việt còn chia tiểu luận theo hình thức (chủ đề rõ, văn phong khoa học) và tiểu luận ngẫu hứng (thiên về quan điểm, trải nghiệm riêng).
Bài tiểu luận môn học
Ở đại học, cao đẳng, bài tiểu luận thường thay cho bài thi hoặc là một đầu điểm của học phần. Sinh viên chọn hay nhận một đề tài gắn với môn học, tìm tài liệu, rồi viết thành một văn bản có mở đầu, các chương mục, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo. Độ dài tùy giảng viên và tùy trường, thường từ vài trang đến vài chục trang. Đây là bậc thấp nhất trong thang bài viết học thuật, xếp trước khóa luận tốt nghiệp, luận văn và luận án.
Học sinh phổ thông chưa viết tiểu luận theo đúng nghĩa ấy, nhưng đã tập những bước rất gần với nó qua kiểu bài viết báo cáo nghiên cứu ở lớp 10: xác định vấn đề, tìm nguồn, trích dẫn và kết luận.
Nhận ra một bài tiểu luận qua năm nét
- Một vấn đề, không phải cả một lĩnh vực. Đề tài được khoanh lại đủ hẹp để nói cho kĩ trong khuôn khổ ngắn.
- Người viết tự nêu vấn đề. Khác bài văn làm theo đề cho sẵn, tiểu luận đòi tác giả tự xác định mình muốn bàn điều gì và vì sao điều đó đáng bàn.
- Có hệ thống luận điểm. Ý lớn chia thành các luận điểm, mỗi luận điểm có lí lẽ và dẫn chứng đi kèm; cách tách các lớp này đã có ở bài luận điểm, luận cứ trong một bài viết bàn luận.
- Có tiếng nói riêng. Một bài chỉ chép lại tài liệu, ghép đoạn này đoạn kia thì chưa thành tiểu luận, dù dài đến đâu.
- Có nguồn rõ ràng. Với tiểu luận học thuật, trích dẫn phải ghi xuất xứ; với tiểu luận văn chương, dẫn chứng thường lấy từ tác phẩm, đời sống, kinh nghiệm đọc của tác giả.
Nét thứ tư là chỗ giáo viên chấm kĩ nhất. Một bài gom đủ tài liệu mà không có nhận định nào của người viết thường bị nhận xét là “tổng thuật”, chưa phải tiểu luận.
Một thời đại trong thi ca: tiểu luận học sinh gặp ở lớp 11
Ví dụ quen thuộc nhất với học sinh Việt Nam là Một thời đại trong thi ca, bài tiểu luận Hoài Thanh viết mở đầu cuốn Thi nhân Việt Nam (1942), nay có trong sách Ngữ văn 11. Nhìn vào bài này có thể thấy đủ các dấu hiệu nêu ở trên.
Vấn đề được khoanh gọn: đâu là tinh thần của phong trào Thơ mới. Hoài Thanh không kể lể từng nhà thơ mà dựng cả bài quanh một cặp khái niệm, chữ “tôi” của Thơ mới đặt đối diện chữ “ta” của thơ cũ. Từ đó ông đi tới kết luận rằng Thơ mới thực sự làm nên một thời đại trong thi ca. Lập luận chặt, nhưng giọng văn lại mềm và nhiều cảm xúc, như thể nhà phê bình đang đọc thơ bằng chính tâm hồn mình. Đọc lại bố cục và các luận điểm ở trang bố cục, luận điểm của Một thời đại trong thi ca sẽ thấy cái khung của một tiểu luận rõ đến mức nào. Hệ thống câu hỏi đọc hiểu của văn bản có trong soạn văn bản của Hoài Thanh theo sách Kết nối tri thức.
Đặt cạnh tập Essais của Montaigne, ta thấy cùng một tinh thần: người viết ít khi dừng ở chỗ trình bày kiến thức; họ bày ra cách mình nghĩ về vấn đề. Muốn đọc thể văn này ở người viết đương đại, có thể tìm những tiểu luận văn học của Nguyễn Bình Phương.
Đặt tiểu luận cạnh luận văn, báo cáo và tản văn
| Kiểu bài | Mục đích | Quy mô, giọng văn |
|---|---|---|
| Tiểu luận | Bàn một vấn đề, nêu nhận định riêng | Ngắn đến vừa; lập luận chặt, có dấu ấn cá nhân |
| Khóa luận, luận văn, luận án | Công trình nghiên cứu để xét tốt nghiệp, lấy học vị (cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ) | Dài, quy trình chặt, có hội đồng chấm |
| Báo cáo nghiên cứu | Trình bày quá trình và kết quả tìm hiểu | Thiên về số liệu, kết quả; ít chỗ cho cảm xúc |
| Tản văn, tùy bút | Ghi cảm xúc, suy tư trước một cảnh, một chuyện | Ngắn, tự do, chất trữ tình đậm, không bắt buộc lập luận |
Ranh giới giữa tiểu luận ngẫu hứng và tản văn đôi khi khá mỏng, vì cả hai đều để người viết nói bằng giọng riêng. Cách phân biệt tản văn với tùy bút có ở bài tản văn khác tùy bút ở chỗ nào; còn tiểu luận thì vẫn giữ trục lập luận làm xương sống.
Bốn câu luyện nhận diện tiểu luận
Câu 1: Vì sao “Một thời đại trong thi ca” được gọi là tiểu luận mà không phải tùy bút?
Đáp án: Vì bài có một vấn đề trung tâm (tinh thần Thơ mới), có hệ thống luận điểm và dẫn chứng, đi tới một kết luận. Cảm xúc của Hoài Thanh có mặt nhưng phục vụ cho lập luận; tùy bút thì lấy cảm xúc, liên tưởng làm mạch chính.
Câu 2: Trong bốn đề tài sau, đề tài nào vừa tầm một bài tiểu luận môn học: (a) Văn học Việt Nam thế kỉ XX; (b) Hình ảnh người mẹ trong ba bài thơ hiện đại; (c) Toàn bộ thơ ca thế giới; (d) Lịch sử chữ viết loài người?
Đáp án: Đề (b). Ba đề còn lại quá rộng, cần cả một công trình hay một bộ sách. Đề (b) khoanh gọn đối tượng (ba bài thơ) và vấn đề (hình ảnh người mẹ), đủ để phân tích kĩ trong khuôn khổ tiểu luận.
Câu 3: Một bạn nộp bài gồm mười trang chép từ năm cuốn sách, không có nhận xét nào của mình. Bài đó đã là tiểu luận chưa? Vì sao?
Đáp án: Chưa. Bài thiếu dấu hiệu quan trọng nhất là tiếng nói riêng: tác giả không nêu vấn đề, không lập luận, không kết luận. Nếu không ghi nguồn, bài còn có thể bị coi là đạo văn.
Câu 4: Chữ “luận” trong tiểu luận có cùng nghĩa với chữ “luận” trong những từ nào sau đây: bình luận, lí luận, luận văn, luân phiên?
Đáp án: Cùng nghĩa (論, bàn bạc, lí giải) với bình luận, lí luận, luận văn. Luân phiên viết với “luân” (輪, bánh xe, vòng quay), là chữ khác hẳn.
Thắc mắc thường gặp khi lần đầu viết tiểu luận
Bài tiểu luận là gì đối với sinh viên năm nhất?
Là bài viết thay cho bài thi hoặc bổ sung điểm của một học phần. Giảng viên đánh giá cách bạn chọn vấn đề, tìm tài liệu, lập luận và trình bày, chứ không chỉ việc bạn nhớ bao nhiêu kiến thức.
Tiểu luận là gì trong văn học?
Là một thể văn nghị luận ngắn, trong đó nhà văn, nhà phê bình bàn về một vấn đề văn chương hay đời sống bằng lập luận có dấu ấn riêng. Ví dụ quen thuộc là Một thời đại trong thi ca của Hoài Thanh.
Tiểu luận tiếng Anh là gì?
Thể văn tiểu luận là essay. Bài tiểu luận môn học ở đại học thường gọi là essay hoặc term paper, tùy trường.
Tiểu luận khác luận văn thế nào?
Tiểu luận gắn với một môn học, quy mô nhỏ, do giảng viên chấm. Luận văn là công trình lớn hơn nhiều, thường để lấy bằng thạc sĩ, phải bảo vệ trước hội đồng.