Đắc nhân tâm là cụm Hán Việt nghĩa là “được lòng người”: cư xử thế nào để người khác quý mến, tin tưởng và sẵn lòng đi cùng mình. Ở Việt Nam, cụm từ này còn nổi tiếng hơn nhờ là tên bản dịch cuốn How to Win Friends and Influence People của Dale Carnegie, nên khi ai đó nói “sống đắc nhân tâm”, họ thường muốn nói tới lối giao tiếp khéo mà vẫn tử tế.
| Nghĩa | Được lòng người; thu phục được tình cảm của người khác |
| Chữ Hán | 得人心: đắc (được) + nhân (người) + tâm (lòng) |
| Loại từ | Cụm động từ, hay dùng như tính từ (“ăn nói rất đắc nhân tâm”) |
| Trái nghĩa | Thất nhân tâm (mất lòng người) |
| Tên sách | Bản dịch tiếng Việt của sách Dale Carnegie, in lần đầu ở Mỹ năm 1936 |

Đắc nhân tâm: lấy được lòng người
Hiểu theo nghĩa gốc, đắc nhân tâm là trạng thái của người được nhiều người yêu quý và tin cậy. Người làm thầy được học trò nể, người làm trưởng nhóm được bạn bè nghe theo, người bán hàng được khách quay lại: đó đều là đắc nhân tâm. Điểm mấu chốt nằm ở chữ “được”: lòng người là thứ người khác trao cho mình, không phải thứ mình giành lấy.
Trong khẩu ngữ, cụm từ thường đi theo hai cách. Một là nói về con người: “Cô ấy ăn nói rất đắc nhân tâm”, tức nói năng khéo, dễ nghe. Hai là nói về một cách làm: “Cách thầy xử lí vụ cãi nhau hôm qua thật đắc nhân tâm”, nghĩa là vừa đúng vừa khiến các bên đều phục. Có khi người ta dùng mỉa: “Đắc nhân tâm quá nhỉ” để chê ai đó khéo nịnh. Lúc ấy nghĩa đã đảo, và giọng nói quyết định tất cả.
Ba chữ Hán và một cuốn sách bán chạy
Trong 得人心, chữ đắc 得 là được, đạt được (như trong đắc thắng, đắc ý); nhân tâm 人心 là lòng người, cũng có khi chỉ lòng dân. Ghép lại là được lòng người, ngược với thất nhân tâm 失人心, mất lòng người. Cách nói này vốn quen trong sách vở cũ khi bàn chuyện trị nước: vua quan được lòng dân thì yên, mất lòng dân thì loạn.
Đến thế kỉ XX, ba chữ ấy có thêm một đời sống mới. Năm 1936, Dale Carnegie, một người dạy kĩ năng nói trước công chúng ở New York, cho ra cuốn How to Win Friends and Influence People, tập hợp từ các khóa học về giao tiếp của ông. Học giả Nguyễn Hiến Lê dịch sang tiếng Việt và chọn cái tên Đắc nhân tâm; bản dịch của ông in ở Sài Gòn từ trước năm 1975 và được tái bản nhiều lần. Về sau sách có thêm các bản dịch khác, trong đó có bản của First News.
Những lời khuyên trong sách nghe rất đời thường: đừng chê bai, trách móc hay kêu ca; khen ngợi thật lòng; mỉm cười; nhớ tên người đối diện; biết lắng nghe và để người đối diện được kể chuyện của chính họ; tránh tranh cãi tay đôi; khi phải góp ý thì nhận lỗi của mình trước. Vì cái tên dịch quá đắt, nhiều người Việt nhắc “đắc nhân tâm” là nghĩ ngay tới cuốn sách, ít ai nhớ đó vốn là một cụm Hán Việt có từ lâu.
Cuốn sách của Dale Carnegie thường được xếp vào dòng sách self help, loại sách hướng dẫn người đọc tự thay đổi bản thân.
Đặt cạnh những từ gần nghĩa và trái nghĩa
| Từ | Nghĩa | Khác đắc nhân tâm ở đâu |
|---|---|---|
| Được lòng | Được người khác ưa, quý | Gần như đồng nghĩa, thuần Việt, nhẹ hơn |
| Thu phục nhân tâm | Làm cho người khác phục và theo mình | Nhấn vào quá trình chủ động, hay dùng cho người lãnh đạo |
| Lấy lòng | Làm vừa ý người khác để được cảm tình | Dễ mang nghĩa xấu, gần với nịnh |
| Khéo ăn nói | Nói năng dễ nghe | Chỉ là một phần; đắc nhân tâm cần cả cách cư xử |
| Thất nhân tâm, mất lòng | Làm người khác phật ý, xa lánh | Trái nghĩa |
Ông bà có câu lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau, một kiểu đắc nhân tâm bằng lời đã có từ trong ca dao. Muốn đọc kĩ hơn có thể xem bài bình câu ca dao lựa lời mà nói.
Được lòng người có phải là chiều lòng người?
Đây là chỗ cụm từ hay bị hiểu lệch. Ngay khi cuốn sách của Carnegie ra đời đã có người chê nó dạy cách cười và tỏ ra quan tâm chỉ để lợi dụng người khác. Lời chê ấy đúng với người đọc sách như đọc mẹo, nhưng không đúng với tinh thần mà cụm từ Hán Việt vốn mang.
Nếu gặp đề nghị luận kiểu “Bàn về nghệ thuật đắc nhân tâm” hay “Có nên sống để được lòng tất cả mọi người?”, có thể đi theo ba ý. Một, được lòng người bắt đầu từ việc thật sự tôn trọng họ: nhớ tên, lắng nghe, không làm họ bẽ mặt. Hai, khéo léo mà thiếu sự chân thành trong cách đối đãi thì chỉ là lấy lòng, sớm muộn sẽ lộ. Ba, đắc nhân tâm không có nghĩa là ai cũng phải vừa ý; người dám nói điều đúng một cách tế nhị đôi khi mất lòng trước nhưng được lòng sau. Để có thêm dẫn chứng về cách nói, cách nghe, có thể đọc phần các kỹ năng giao tiếp cần rèn.
Một chi tiết đáng nhớ để kết đoạn văn: trong sách, lời khuyên nổi tiếng không nằm ở chuyện nói hay, mà ở chuyện nhớ tên người khác. Được lòng người, rốt cuộc, bắt đầu từ việc coi họ là một người cụ thể.
Đắc nhân tâm qua vài câu dùng thường ngày
Đắc nhân tâm nghĩa là gì trong tiếng Anh?
Không có một từ tương đương gọn. Theo nghĩa gốc có thể dịch là to win people’s hearts; còn tên cuốn sách gốc là How to Win Friends and Influence People, tạm hiểu là làm sao để có bạn và gây ảnh hưởng tới người khác.
Đắc nhân tâm là sách gì, viết về chuyện gì?
Sách bàn về cách cư xử với người khác: tạo thiện cảm, thuyết phục mà không gây tranh cãi, góp ý mà không làm người nghe tổn thương. Các chương được viết thành những nguyên tắc ngắn kèm nhiều câu chuyện minh họa, nên dễ đọc với cả học sinh.
Thất nhân tâm là gì?
Thất nhân tâm là mất lòng người, trái nghĩa với đắc nhân tâm. Chữ thất 失 nghĩa là mất, như trong thất bại, thất lạc. Cụm này ít gặp trong lời nói hằng ngày, người ta thường chỉ nói “mất lòng”.
Nói ai đó “đắc nhân tâm” là khen hay chê?
Thường là khen: người ấy biết cách cư xử khiến người khác quý. Nhưng nếu đi với giọng mỉa, như “đắc nhân tâm ghê”, thì lại thành chê khéo nịnh. Cần nghe cả ngữ cảnh mới biết.