Soạn bài Hải khẩu linh từ (Đền thiêng cửa bể) dưới đây giúp em trả lời hai câu hỏi trước khi đọc, bảy câu hỏi theo dõi trong khi đọc, bảy câu hỏi sau khi đọc (trang 105) và đề viết kết nối với đọc trong Ngữ văn 12 Kết nối tri thức tập một, Bài 4 (Yếu tố kì ảo trong truyện kể). Đây là văn bản đọc đầu tiên của bài học, trích từ tập Truyền kì tân phả mà SGK ghi là của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm.
Tìm hiểu chung về văn bản Hải khẩu linh từ
Trước khi vào từng câu hỏi, em nên nắm nhanh vài thông tin nền về truyện và bản dịch được dùng trong sách.

- Tác giả: Đoàn Thị Điểm (1705 – 1748), hiệu Hồng Hà nữ sĩ, quê Văn Giang thuộc Kinh Bắc xưa (nay là Hưng Yên), nổi tiếng tài sắc và giỏi văn chương thời Lê trung hưng.
- Xuất xứ: truyện nằm trong Truyền kì tân phả, viết bằng chữ Hán; SGK dùng bản dịch của Ngô Lập Chi, chỉnh lí theo sách Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại (tập một) do Nguyễn Đăng Na biên soạn (NXB Giáo dục, 1999).
- Thể loại: truyện truyền kì, kể bằng ngôi thứ ba, đan xen văn xuôi với thơ, biểu, thư từ.
- Nhân vật chính: nàng Bích Châu (Nguyễn Cơ), cung phi của vua Trần Duệ Tông, sau được vua Lê Thánh Tông lập đền thờ và phong thần với hai chữ “Chế Thắng”.
Bản dịch trong SGK vẫn còn trong thời hạn bảo hộ, vì vậy bài soạn chỉ dẫn vài câu ngắn để làm dẫn chứng, phần còn lại được diễn đạt lại bằng lời giải thích.
Soạn bài Hải khẩu linh từ: Trước khi đọc (trang 94)
Câu 1: Cảm nhận về truyện dân gian có yếu tố kì ảo (trang 94)
Hãy chia sẻ cảm nhận về một số truyện dân gian có yếu tố kì ảo mà bạn từng đọc.
Trả lời: Em nhớ nhất hai truyện Thánh Gióng và Sọ Dừa. Ở Thánh Gióng, cậu bé ba năm không biết nói bỗng vươn vai thành tráng sĩ, nhổ tre đánh giặc rồi cưỡi ngựa sắt bay về trời; những chi tiết lạ ấy khiến em cảm phục sức mạnh của cả cộng đồng khi đất nước gặp nạn. Ở Sọ Dừa, chàng trai hình hài kì dị hóa ra tài giỏi, nhắc em đừng đánh giá người qua vẻ ngoài. Yếu tố kì ảo làm truyện hấp dẫn, dễ nhớ, đồng thời gửi gắm niềm tin vào cái thiện và ước mơ công bằng của nhân dân.
Câu 2: Truyện truyền kì em biết và tác phẩm để lại ấn tượng (trang 94)
Kể tên một số truyện truyền kì có yếu tố kì ảo mà bạn biết. Bạn có ấn tượng với tác phẩm nào nhất? Vì sao?
Trả lời: Những truyện truyền kì em đã đọc gồm: Chuyện chức phán sự đền Tản Viên và Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ (rút từ Truyền kì mạn lục), nhiều truyện trong Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh. Em ấn tượng nhất với Chuyện chức phán sự đền Tản Viên, vì Ngô Tử Văn là một kẻ sĩ bình thường mà dám đốt đền tà, dám đối chất với hồn ma tướng giặc ngay dưới Minh ti.
Soạn bài Hải khẩu linh từ: Câu hỏi trong khi đọc
Bên lề văn bản có bảy chỉ dẫn theo dõi. Em vừa đọc vừa ghi nhanh câu trả lời như sau.
Câu 1: Lai lịch, chân dung nhân vật chính (trang 94)
Trả lời: Nhân vật chính là Nguyễn Cơ, tên chữ là Bích Châu, con gái một gia đình làm quan, được vua Trần Duệ Tông nghe tiếng mà kén vào cung. Nàng có nết đứng đắn, gương mặt tươi tắn, am hiểu âm luật. Chỉ qua một lần ứng đối câu đối trong đêm Trung thu, nàng được vua khen ngợi, đặt tên là Phù Dung và yêu quý hơn hẳn các cung phi khác. Ngay từ phần mở đầu, người đọc đã thấy một người phụ nữ vừa có sắc vừa có tài.
Câu 2: Tác động của những chi tiết linh thiêng, huyền bí (trang 96)
Trả lời: Lời phụ lão về ngôi miếu thiêng ở cửa bể, đám mây đen lấn vào một ngôi sao phương bắc, quẻ bói Kinh Dịch, trận gió lốc thổi cờ bay về hướng tây nam… khiến em thấy hồi hộp, có cảm giác một tai họa đang đến gần mà con người khó cưỡng lại. Các chi tiết ấy tạo không khí rờn rợn, bí ẩn, đồng thời khiến em lo lắng cho số phận nàng Bích Châu, vì nàng nói rõ ngôi sao bị xâm phạm “ứng vào phận phi tần”.
Câu 3: Dự đoán hành động, ứng xử của Bích Châu (trang 98)
Trả lời: Từ lời than trách mình chưa can được vua, việc nàng xin đi theo đoàn quân và những điềm báo vừa xuất hiện, em đoán Bích Châu sẽ tự nguyện nhận lấy tai họa về mình, chấp nhận hi sinh để nhà vua và quân sĩ được bình an.
Câu 4: Dự đoán diễn biến câu chuyện (trang 99)
Trả lời: Sau khi nàng gieo mình xuống biển, em đoán đoàn quân của vua Duệ Tông vẫn không tránh khỏi thất bại vì vua đã không nghe lời can. Linh hồn Bích Châu sẽ chưa được yên và phải chờ một vị minh quân đời sau đến giải oan, lập đền thờ cho nàng.
Câu 5: Nội dung trao đổi qua thư giữa Quảng Lợi vương và Lê Thánh Tông (trang 101)
Trả lời:
- Thư của vua Lê Thánh Tông: mở đầu bằng đạo lí trời thưởng người thiện, phạt kẻ ác; khẳng định cuộc tiến quân đánh Chiêm Thành là chính nghĩa; kể tội thuộc hạ của Quảng Lợi vương làm yêu làm quái, ép uổng cung nữ nhà Trần, hại dân lành; yêu cầu vua thủy quốc xét rõ và trị tội theo phép nước.
- Thư trả lời của Quảng Lợi vương: nhận rằng mình chưa soi xét hết, để quan trấn giữ nơi xa làm bậy; tỏ ý khiêm nhường và hứa không dung tha kẻ gian, như câu khẳng định: “Dẫu là hai nơi âm dương cách biệt, nhưng ba thước gươm sáng chẳng dung gian tà.”
Hai bức thư có lời lẽ trang trọng, đúng phép ngoại giao, thống nhất ở điểm chung: kẻ có tội phải bị trừng trị.
Câu 6: Việc thực thi luật pháp ở thủy cung (trang 103)
Trả lời: Nhận thư xong, Quảng Lợi vương nổi giận, hỏi ai cai quản vùng biển ấy; quan Ngao ngự sử tâu rõ tội tham sắc, nhận hối lộ của Giao đô đốc; vua thủy quốc tự nhận lỗi dùng người không xứng đáng; Côn thừa tướng xin bắt Giao đô đốc về xử công khai để giữ nghiêm phép nước. Sau đó Ngạc tổng binh, Miết tòng sự đem quân đi bắt, Miết tòng sự đọc lời tuyên án. Kẻ phạm tội dù xuất thân cao quý vẫn bị trị, nhưng vì từng có công nên được khoan giảm, đày lên đất liền thay vì xử tử.
Câu 7: Sự lặp lại của yếu tố “giấc mộng” (trang 104)
Trả lời: Truyện có ba giấc mộng quan trọng: vua Duệ Tông mộng thấy viên đô đốc biển Nam đòi mĩ nữ; vua Lê Thánh Tông nằm mơ gặp Bích Châu hiện lên kể oan, dâng ngọc minh châu; lần thứ hai Thánh Tông lại mộng thấy nàng, khi ấy đã thành tiên, đến cảm tạ và xin sửa câu thơ. Giấc mộng là “cánh cửa” nối cõi người với cõi thần, giúp nhân vật kì ảo lên tiếng, đẩy câu chuyện sang bước ngoặt mới và làm nổi bật tấm lòng trung trinh, chung thủy của Bích Châu.
Soạn bài Hải khẩu linh từ: Câu hỏi sau khi đọc (trang 105)
Câu 1: Bảng hệ thống các yếu tố linh thiêng, kì ảo (trang 105)
Lập bảng hệ thống các sự kiện, nhân vật, chi tiết,… có tính chất linh thiêng, kì ảo xuất hiện trong văn bản.
Trả lời:
| Chi tiết, sự việc, nhân vật | Biểu hiện linh thiêng, kì ảo | Tác dụng |
|---|---|---|
| Ngôi miếu ở cửa bể Kỳ Hoa | Phụ lão tâu rằng thuyền qua phải lễ bái, không thì bị đắm | Báo trước một sức mạnh siêu nhiên khiến người ta khiếp sợ |
| Thiên tượng, quẻ bói | Mây đen lấn tới ngôi sao thứ tư của Bắc cực; quẻ Phục biến sang quẻ Di | Điềm dữ ứng vào phận phi tần |
| Trận gió lốc, bão biển | Gió cuốn cờ đào bay về phía tây nam, sóng gào thét | Ứng nghiệm điềm báo, đẩy tình huống đến cao trào |
| Viên đô đốc vùng biển Nam (Giao thần) | Hiện về trong mộng của vua Duệ Tông, đòi một mĩ nữ | Đặt nhân vật trước lựa chọn sinh tử |
| Bích Châu gieo mình xuống biển | Ngay sau đó gió tan, mưa tạnh, biển lặng | Khẳng định sự hi sinh của nàng cứu được cả đoàn quân |
| Bích Châu hiện về trong mộng của vua Lê Thánh Tông | Từ dưới nước hiện lên kể oan, dâng ngọc minh châu “triệt hải” | Mở ra con đường giải oan cho nàng |
| Ngọc minh châu và thủy quốc | Soi thấy lâu đài dưới biển; thư bắn xuống biển đến tay Quảng Lợi vương | Nối hai cõi người – thần trong cùng một trật tự |
| Bích Châu hiển linh lần hai | Đã lên tiên, được giao coi giữ họa phúc một phương, xin vua sửa câu thơ | Ca ngợi tấm lòng trọn nghĩa vua tôi, chồng vợ |
| Đền thờ Chế Thắng phu nhân | Được sắc phong, hương khói linh ứng đến đời sau | Giải thích nguồn gốc ngôi đền, đưa nhân vật vào lịch sử |
Câu 2: Phẩm chất của mẫu hình người phụ nữ qua nàng Bích Châu (trang 105)
Thông qua lời can gián, suy nghĩ và hành động của nàng Bích Châu, bạn có nhận xét gì về phẩm chất, đức tính của mẫu hình người phụ nữ mà tác giả xây dựng trong truyện?
Trả lời:
- Qua lời can gián: bài biểu mười điều cho thấy nàng hiểu sâu việc nước, từ lấy dân làm gốc, giữ phép tắc, trừ quyền thần, dùng người tài đến chuyện kén quân, chọn tướng. Khi vua muốn đánh Chiêm Thành, nàng lại dâng biểu khuyên lấy rộng lượng làm đầu, cho dân được nghỉ ngơi. Đó là trí tuệ sắc sảo và tấm lòng thương dân, ghét chiến tranh.
- Qua suy nghĩ: nàng tự trách mình như kẻ “sống thừa” vì không can được vua; với nàng, nghĩa vua tôi và ơn vợ chồng gắn liền với trách nhiệm giữ nền thái bình.
- Qua hành động: nàng xin đi theo quân, rồi khi Giao thần đòi người, nàng chủ động nhận cái chết, chỉ xin vua “sửa văn nghỉ võ, kén dùng người hiền”. Ngay cả khi đã thành thần, nàng vẫn bận lòng về danh tiết vua tôi, chồng vợ.
Như vậy, Đoàn Thị Điểm đã dựng nên một người phụ nữ vừa tài sắc vừa có tầm nhìn chính trị, cương trực, trung trinh, giàu đức hi sinh. Đây là mẫu người phụ nữ hiếm thấy trong văn học trung đại, vượt khỏi khuôn khổ chốn cung cấm để gánh vác việc nước.
Câu 3: Vai trò của sự đan xen yếu tố lịch sử và kì ảo (trang 105)
Sự đan xen giữa yếu tố lịch sử và yếu tố kì ảo trong câu chuyện đã đóng vai trò như thế nào trong việc thể hiện thông điệp của tác phẩm?
Trả lời:
- Yếu tố lịch sử: các vua có thật (Trần Duệ Tông, Lê Thánh Tông), mốc năm Long Khánh, niên hiệu Hồng Đức, các cuộc tiến quân vào Chiêm Thành, nhân vật Lương Thế Vinh, Nguyễn Trọng Ý, ngôi đền thờ Chế Thắng phu nhân có thật ở vùng cửa biển.
- Yếu tố kì ảo: điềm trời, giấc mộng, Giao thần, ngọc minh châu, triều đình dưới biển của Quảng Lợi vương, sự hiển linh của Bích Châu.
- Vai trò: cái có thật giúp câu chuyện đáng tin, gắn với vận nước; cái kì ảo giúp tác giả nói được điều lịch sử chính thống không ghi: nỗi oan của một người phụ nữ và sự đền đáp xứng đáng cho lòng trung nghĩa. Nhờ sự kết hợp đó, thông điệp hiện ra rõ ràng: việc trị nước phải lấy dân làm gốc, vua sáng thì điềm lành đến; người sống trọn đạo nghĩa sẽ được lịch sử và nhân dân ghi nhớ mãi.
Câu 4: Chi tiết, sự việc kì ảo hấp dẫn nhất (trang 105)
Trong số các chi tiết, sự việc kì ảo trong Đền thiêng cửa bể, theo bạn, chi tiết hoặc sự việc nào hấp dẫn hơn cả? Vì sao?
Trả lời: Em thấy hấp dẫn nhất là cảnh Bích Châu đã lên tiên mà vẫn hiện về xin vua sửa hai câu kết bài thơ đề trên tường miếu. Bài thơ cũ kết bằng lời than rằng trăm vạn quân mạnh mà lại phải nhờ một bài văn của thư sinh, khiến công lao như dồn cả về phía người viết thư và làm nhẹ đi danh dự nhà vua. Nàng không màng ngợi khen cho mình mà lo cho chữ nghĩa vua tôi, chồng vợ. Chi tiết vừa bất ngờ (thần tiên cũng “thắc mắc” chuyện câu chữ), vừa sâu sắc: nó cho thấy nhân cách của Bích Châu trọn vẹn cả khi sống lẫn khi đã thành thần, và khiến vua Lê phải khen nàng “thực là một người anh kiệt trong đám nữ lưu”.
Câu 5: Quan điểm hiện thực của tác giả (trang 105)
Nêu suy nghĩ của bạn về quan điểm hiện thực của tác giả thể hiện qua: a. Việc miêu tả bộ máy nhà nước của Quảng Lợi vương; b. Nội dung hai bức thư trao đổi của vua Lê Thánh Tông và Quảng Lợi vương.
Trả lời:
a. Triều đình thủy quốc: bộ máy cai trị của Quảng Lợi vương được dựng theo đúng mô hình triều đình phong kiến: vua ngồi điện Linh Đức, dưới có thượng thư đọc thư, ngự sử can tấu, thừa tướng bàn kế, tổng binh và tòng sự cầm quân, hàn lâm thảo văn, đốc bưu đưa tin, hiệu úy tuần tra. Mỗi chức quan lại gắn với một loài dưới nước (rồng, ngao, côn, cá sấu, ba ba, rùa, cá kình), vừa hóm hỉnh vừa gợi hình. Qua đó, tác giả cho thấy thế giới thần linh thực chất là tấm gương của xã hội người: cũng có kẻ quyền thế lạm quyền, tham sắc, nhận hối lộ, cũng cần một vị vua biết tự nhận lỗi (“Quả nhân ít đức, dùng người không xứng đáng”) và một kỉ cương nghiêm minh. Đó là cái nhìn tỉnh táo, phê phán của tác giả với hiện thực đương thời.
b. Hai bức thư cho thấy người viết coi trọng vương đạo và phép nước: vua Lê nói bằng giọng của bậc thiên tử chính danh, nhân danh đạo trời mà đòi công lí; vua thủy quốc khiêm nhường nhận sai, cam kết trừng trị kẻ gian. Cõi thần cũng phải nể phục người cầm quyền có đức và có chính nghĩa. Qua đó, tác giả gửi gắm niềm tự hào về triều đại Hồng Đức và mong muốn một xã hội trên dưới phân minh, kẻ ác bị trị, người ngay được bênh vực.
Câu 6: Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ đối thoại (trang 105)
Trình bày nhận xét về nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ đối thoại trong văn bản.
Trả lời:
- Đối thoại xuất hiện dày đặc và đa dạng: vua với phi tần, người với thần, vua cõi trần với vua thủy quốc (qua thư), quan lại thủy cung với nhau.
- Lời thoại mang đậm phong vị trung đại: trang trọng, nhiều điển cố, câu văn biền ngẫu cân đối, phù hợp với địa vị nhân vật.
- Đối thoại khắc họa tính cách: lời Bích Châu vừa mềm mỏng vừa kiên quyết (“Thiếp không dám tham luyến phồn hoa, tiếc thân bồ liễu, xin trả cho xong cái nợ trước mắt kia.”); lời vua Duệ Tông đầy thương xót nhưng cũng lộ vẻ quá tin vào uy quyền của bậc đế vương; lời Giao thần ngang ngược, trơ tráo; lời Quảng Lợi vương thẳng thắn nhận lỗi.
- Đối thoại còn đẩy mạch truyện đi tới (lời phụ lão, lời báo mộng) và là nơi tác giả gửi gắm tư tưởng về trị nước, về trung nghĩa.
Câu 7: Bình luận chi tiết Bích Châu hiển linh và được lập đền thờ (trang 105)
Bình luận về chi tiết nàng Bích Châu hiển linh giúp vua thắng trận và việc nàng được lập đền thờ.
Trả lời: Bích Châu hai lần hiện về trong chuyến đi và về của vua Lê Thánh Tông. Lần đầu, nàng giãi bày nỗi oan, chỉ cho vua cách nhờ Quảng Lợi vương trừ Giao thần; sau khi oan được giải, quân Lê đi đến đâu thắng đến đó, bắt sống tù trưởng. Lần sau, nàng đã lên tiên mà vẫn đến tạ ơn và lo cho danh tiết vua tôi. Chi tiết này mang nhiều ý nghĩa:
- Nó là sự đền đáp xứng đáng cho người đã hi sinh vì nước, thể hiện niềm tin ở hiền gặp lành của nhân dân.
- Nó gắn chiến thắng của vua Lê với sự phù trợ của một linh hồn trung nghĩa, ngầm nói rằng vua có đức thì được cả thần linh giúp sức.
- Việc lập đền, cấp ruộng tế, sắc phong hai chữ “Chế Thắng” giải thích nguồn gốc một ngôi đền có thật, biến nhân vật truyền kì thành một vị thần được thờ phụng.
Soạn bài Hải khẩu linh từ: Kết nối đọc – viết (trang 105)
Câu 1: Đoạn văn cảm nhận về hình tượng Bích Châu (trang 105)
Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) nêu cảm nhận của bạn về hình tượng nhân vật Bích Châu trong tác phẩm.
Trả lời: Em có thể tham khảo hai đoạn văn sau.
Đoạn văn tham khảo 1: Khép lại Hải khẩu linh từ, em còn nhớ mãi nàng Bích Châu như một đóa phù dung nở giữa sóng gió. Nàng đẹp, đối đáp nhanh nhạy, nhưng điều đáng quý hơn cả là tầm nhìn của một người lo việc nước: bài biểu mười điều khuyên vua lấy dân làm gốc, dùng người tài, bớt phô trương binh lực. Khi lời can không được nghe, nàng không oán trách mà tự nhận phần trách nhiệm, rồi chọn cái chết để đoàn thuyền được yên. Hành động ấy không phải sự cam chịu, mà là lựa chọn tỉnh táo của người hiểu rằng lợi ích chung nặng hơn hạnh phúc riêng. Đến khi thành thần, nàng vẫn day dứt về danh tiết của nhà vua và tình nghĩa phu thê. Bích Châu vì thế vừa gần gũi như một người phụ nữ biết yêu thương, vừa cao cả như một bậc trung thần.
Đoạn văn tham khảo 2: Bích Châu là nhân vật kết tinh vẻ đẹp tài – sắc – đức trong truyện truyền kì của Đoàn Thị Điểm. Tài của nàng hiện ra qua câu đối ứng khẩu và bài biểu bàn việc nước khiến nhà vua phải kinh ngạc. Đức của nàng hiện ra qua tấm lòng thương dân, ghét chiến tranh và sự thẳng thắn dám can gián bề trên. Đỉnh cao của hình tượng là lúc nàng gieo mình xuống biển, đổi mạng sống lấy sự bình yên cho ba quân, trước khi đi còn dặn vua sửa sang việc văn, nghỉ việc võ. Cái chết ấy không vô ích: linh hồn nàng được giải oan, phù trợ vua Lê và được lập đền thờ. Qua Bích Châu, nữ sĩ Đoàn Thị Điểm như muốn khẳng định giá trị và tầm vóc của người phụ nữ trong xã hội vốn coi nhẹ họ.
Kết luận
Khi soạn Hải khẩu linh từ, em cần nắm chắc ba ý: hệ thống chi tiết kì ảo (điềm báo, giấc mộng, thủy quốc, sự hiển linh); vẻ đẹp tài – đức – trung trinh của Bích Châu; và cách tác giả đan cài lịch sử với kì ảo để nói về đạo trị nước.
Xem thêm:
- Nguyễn Dữ và Truyền kì mạn lục
- Yếu tố kì ảo trong Chuyện người con gái Nam Xương
- Muối của rừng (Nguyễn Huy Thiệp): tác giả, tác phẩm
- Ngữ văn 12 Kết nối tri thức
- Giới thiệu tác giả Đoàn Thị Điểm: Hồng Hà nữ sĩ và Truyền kỳ tân phả