Đối đáp với Đoàn Thị Điểm từng khắc họa vẻ đẹp của văn hóa dân gian qua những tác phẩm nổi tiếng. Truyện dân gian Việt Nam chứa đựng nhiều giá trị sâu sắc. Khám phá những câu chuyện này giúp ta hiểu thêm về tâm hồn và trí tuệ của cha ông.
Thuở còn đi học, Quỳnh càng ngày càng mê cô con gái thầy học là Đoàn Thị Điểm là người vừa xinh đẹp, đoan trang lại giỏi văn thơ.
Nhưng trêu chọc với nàng không dễ bởi ngoài tính tình đoan trang, Thị Điểm còn rất giỏi văn thơ nhất là ứng đối. Có lần Quỳnh từ phố Mía về, Thị Điểm thấy Quỳnh đang ngồi, liền ra ngay một vế đối có ý trêu:
“Lên phố Mía gặp cô hàng mật, cầm tay kẹo lại hỏi thăm đường.” (kẹo tiếng địa phương còn có nghĩa là kéo lại).
Gặp câu đối ra toàn mía, mật kẹo, đường, Quỳnh nghĩ mãi không ra vế đối, bí quá, đành phải đánh bài chuồn.
Một hôm, thấy cô Điểm vào buồng tắm, nhà vắng, Quỳnh nghịch ngợm gõ cửa đòi vào. Cô Điểm vốn hay chữ, tức cảnh, ra ngay một vế đối, bảo Quỳnh đối được thì cho vào. Câu đối như sau:
– “Da trắng vỗ bì bạch!”. (Bì bạch, chữ Hán cũng có nghĩa là da trắng).
Quỳnh nghĩ nát óc cũng không tìm ra câu để đối, đành lủi thủi bỏ đi nhưng nghĩ bụng sẽ tìm dịp lỡm lại Thị Điểm.
Một lần khác, Quỳnh ngồi đối diện với Thị Điểm qua cửa sổ Thị Điểm lại đọc một câu:
“Hai người ngồi song song hai cửa sổ.” (Song là hai, song cũng có nghĩa là song cửa). Lại một lần nữa, gặp câu quá hóc búa, Quỳnh bí quá đành lảng ra chỗ khác.
Một hôm tối trời, thừa lúc Thị Điểm ra ngoài, Quỳnh lẻn vào giường Thị Điểm nằm trước. Thị Điểm không biết, vào buồng sờ soạng, vô tình quờ ngay tay vào… Thị Điểm biết ngay là Quỳnh nghịch ngợm, liền ra cho một vế đối, bảo không đối được sẽ mách thầy học về tội sàm sỡ.
Vế đối ra như sau:
“Trướng nội vô phong phàm tự lập.”
(Trong phòng không có gió mà cột buồm lại dựng lên)
Lần này Quỳnh đối được ngay:
“Hung trung bất vũ thủy trường lưu”
(Trong bụng không có mưa mà nước vẫn chảy dài).
Lần đó Quỳnh thoát tội.
Nhân ngày xuân, thầy sai Thị Điểm đem lễ lên chùa. Quỳnh được thầy cho theo cùng. Trên đường, Thị Điểm chỉ cây xương rồng bảo Quỳnh:
– Cây xương rồng, trồng đất rắn, long vẫn hoàn long (Long là lỏng lẻo, chữ Hán long nghĩa là rồng, mà chữ rồng đã dùng ở trên).
Về ý, Thị Điểm nói bóng, Quỳnh ngang ngạnh, có dạy dỗ thế nào cũng không chuyển được.
Chữ đối đã khó, ý lại sâu xa. Thế mà Quỳnh đối lại được rất chỉnh, lại tỏ được cái ý nhất quyết giữ cái tính ấy và còn thách thức Thị Điểm nữa. Quỳnh đối như sau:
– Quả dưa chuột, tuột thẳng gang, thử chơi thì thử (Thử chữ Hán nghĩa là chuột, mà chữ chuột cũng đã dùng trên).
Cũng qua lần đối đáp này, hai người thấy tư tưởng không hợp nhau nên từ đấy thôi xướng họa.
Ý nghĩa truyện Đối đáp với Đoàn Thị Điểm
Cuộc đấu chữ giữa hai người cùng tài
Trong chuỗi giai thoại này, Trạng Quỳnh nổi tiếng lém lỉnh lại nhiều lần phải “đánh bài chuồn” trước cô Điểm. Vế đối của cô dùng lối đồng nghĩa, đồng âm rất hiểm: “kẹo” vừa là kẹo vừa là kéo, “bì bạch” vừa là tiếng vỗ vừa là da trắng, “song” vừa là hai vừa là song cửa. Người nghe vừa thán phục cô gái giỏi chữ, vừa buồn cười khi anh chàng tinh quái bị bí.
Lối đối Nôm – Hán
Cặp đối “cây xương rồng” và “quả dưa chuột” là ví dụ đẹp của lối đối dùng một chữ Nôm rồi lặp nghĩa bằng chữ Hán: “rồng” đã có thì phải dùng “long”, “chuột” đã có thì phải dùng “thử”. Vế của Thị Điểm ngầm chê Quỳnh “long vẫn hoàn long”, dạy mãi không đổi tính; vế đáp của Quỳnh vừa chỉnh vừa như thách thức. Câu “long vẫn hoàn long” về sau còn được Quỳnh nhắc lại trong truyện Trạng Quỳnh dạy học.
Tiếng cười tinh nghịch, có phần tục
Vài vế đối trong truyện có ý tục, kiểu đùa quen thuộc của giai thoại dân gian về những người giỏi chữ. Đó là tiếng cười giải trí, không phải chuyện có thật về hai con người lịch sử.
Nguồn gốc truyện Đối đáp với Đoàn Thị Điểm
Đoàn Thị Điểm (1705–1748), hiệu Hồng Hà nữ sĩ, là nữ văn sĩ nổi tiếng thế kỷ XVIII, tác giả “Truyền kỳ tân phả”; sách giáo khoa Ngữ văn 9 hiện hành ghi bà là người dịch “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn (xem bài Nỗi niềm chinh phụ). Trạng Quỳnh tức Nguyễn Quỳnh (1677–1748), người làng Bột Thượng, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa, hơn bà gần ba mươi tuổi; bà cũng không phải con gái thầy học của ông. Những cuộc đối đáp Quỳnh – Điểm vì thế là giai thoại dân gian ghép hai người cùng nổi tiếng hay chữ. Bản kể trên không ghi người kể.
Đọc thêm: Tài ứng đối của Đoàn Thị Điểm và Trạng Quỳnh và Đất nứt con bọ hung.
Câu hỏi thường gặp
Đoàn Thị Điểm có thật là con gái thầy học của Trạng Quỳnh không?
Không. Đoàn Thị Điểm sinh năm 1705, kém Nguyễn Quỳnh (sinh 1677) gần ba mươi tuổi; quan hệ thầy trò, bạn học giữa hai người chỉ có trong giai thoại.
Câu “Cây xương rồng, trồng đất rắn, long vẫn hoàn long” hay ở đâu?
Câu dùng chữ Nôm “rồng” rồi nhắc lại bằng chữ Hán “long”, đồng thời “long” còn có nghĩa lỏng lẻo; ý ngầm chê Quỳnh nghịch ngợm mãi không chừa. Quỳnh đáp bằng “quả dưa chuột… thử chơi thì thử”, cũng dùng cặp Nôm – Hán “chuột – thử”.