Soạn bài Xuân Tóc Đỏ cứu quốc dưới đây giải lần lượt các câu hỏi trước khi đọc, trong khi đọc, sau khi đọc và phần kết nối đọc – viết ở trang 11 – 18, Bài 1 (Khả năng lớn lao của tiểu thuyết), sách Ngữ văn 12 Kết nối tri thức tập một. Đây là văn bản đọc mở đầu chương trình lớp 12, trích chương cuối của Số đỏ, cuốn tiểu thuyết nổi tiếng nhất của Vũ Trọng Phụng: trận quần vợt Xuân Tóc Đỏ cố tình thua nhà vô địch Xiêm La rồi được đám đông tung hô như người cứu nước.
Tìm hiểu chung về đoạn trích Xuân Tóc Đỏ cứu quốc
Nắm chắc vài thông tin nền dưới đây sẽ giúp em trả lời nhanh và trúng các câu hỏi phía sau.

Tác giả Vũ Trọng Phụng
Vũ Trọng Phụng (1912 – 1939) quê gốc ở Mỹ Hào, Hưng Yên, sinh trưởng tại Hà Nội. Mồ côi cha từ rất nhỏ, ông chỉ học hết bậc tiểu học rồi đi làm thuê, sau đó theo nghề báo và sống bằng ngòi bút. Chưa đầy mười năm cầm bút, ông để lại một khối lượng lớn: phóng sự (Cạm bẫy người, Kỹ nghệ lấy Tây, Cơm thầy cơm cô…), tiểu thuyết (Số đỏ, Giông tố, Làm đĩ, Vỡ đê…). Người đương thời tôn ông là ông vua phóng sự đất Bắc; văn học sử xếp ông vào hàng bậc thầy của tiếng cười trào phúng trong văn xuôi hiện thực trước năm 1945. Xem thêm danh mục tác phẩm của Vũ Trọng Phụng.
Xuất xứ, thể loại, bố cục
- Xuất xứ: Số đỏ in lần đầu trên Hà Nội báo năm 1936, ra sách năm 1938, gồm 20 chương. Đoạn trích thuộc chương XX, chương kết của tiểu thuyết. SGK dẫn theo bản Số đỏ, NXB Văn học, Hà Nội, 1988, tr. 187 – 193.
- Thể loại: tiểu thuyết hiện đại, giọng trào phúng.
- Ngôi kể: ngôi thứ ba, người kể giấu mình nhưng không ngừng chen lời bình luận mỉa mai.
- Bố cục: ba phần.
(1) Từ đầu đến chỗ Tổng cục mời nhà quán quân Xiêm La ra đấu với Xuân: không khí trước giờ thi đấu và sự cố hai quán quân Hải, Thụ vắng mặt;
(2) Tiếp theo đến lúc đoàn xe các đức vua, quý quan rời sân: diễn biến ván quần và lệnh “phải thua” từ chính quyền;
(3) Phần còn lại: đám đông phản đối, Xuân Tóc Đỏ diễn thuyết và được hoan hô như anh hùng.
Muốn đọc kĩ hơn về hoàn cảnh sáng tác, giá trị nội dung và nghệ thuật, em xem bài Xuân Tóc Đỏ cứu quốc: tác giả, tác phẩm.
Soạn bài Xuân Tóc Đỏ cứu quốc – Trước khi đọc (trang 11)
Hai câu hỏi khởi động gợi lại những gì em đã biết về tên nhân vật và về văn học trào phúng.
Câu 1: Những nhân vật gây tò mò ngay từ cái tên (trang 11)
Khi nói về nhân vật văn học có thể gây cho độc giả sự chú ý, tò mò ngay từ cái tên, bạn nghĩ tới những nhân vật nào? Nêu nhận xét về ý nghĩa của việc đặt tên cho các nhân vật trong sáng tác văn học.
Trả lời:
- Một số tên nhân vật gây tò mò: Chí Phèo (Nam Cao) – cái tên nửa người nửa “phèo” đã báo trước một số phận bị tha hóa; Lão Hạc (Nam Cao); Sọ Dừa (truyện cổ tích); và chính Xuân Tóc Đỏ – một biệt danh đường phố gắn với mái tóc cháy nắng của gã trẻ lang thang.
- Đặt tên cho nhân vật không đơn thuần là để phân biệt người này với người kia. Nhà văn có thể dùng tên để gợi ngoại hình, nguồn gốc, tính cách, thậm chí gói sẵn thái độ đánh giá. Cái tên lạ khiến người đọc nhớ lâu, kích thích họ đọc tiếp để xem nhân vật “có đúng như tên” hay không.
- Trong truyện trào phúng, tên gọi thường là mũi giễu đầu tiên: Văn Minh, Typn, Phó Đoan… nghe đã thấy sự lai căng, kệch cỡm.
Câu 2: Hiểu biết về tiếng cười trào phúng (trang 11)
Nêu những hiểu biết của bạn về tiếng cười trào phúng trong sáng tác văn học (đối tượng trào phúng, thủ pháp trào phúng, giọng điệu trào phúng,…).
Trả lời:
- Đối tượng: cái xấu, cái giả, cái lố bịch trong con người và xã hội – thói háo danh, tham lam, dốt nát mà làm ra vẻ thông thái, những trò đạo đức giả, những hủ tục, những hiện tượng “mốt” lai căng.
- Thủ pháp: phóng đại, cường điệu; tương phản giữa vẻ ngoài và bản chất; nói ngược, nói mỉa; dùng nghịch ngữ; tạo tình huống trớ trêu; giễu nhại ngôn ngữ trang trọng; chọn chi tiết “đắt” để lật tẩy nhân vật.
- Giọng điệu: có thể hài hước nhẹ nhàng, có thể mỉa mai châm biếm, đến mức cao là đả kích gay gắt. Đằng sau tiếng cười luôn là thái độ phê phán và mong muốn xã hội tốt đẹp hơn.
Đọc văn bản: trả lời câu hỏi trong khi đọc (trang 11 – 17)
Trong khi đọc, SGK đặt 12 câu hỏi theo dõi, suy luận ở lề trang. Mỗi câu gắn với một đoạn cụ thể của văn bản.
Câu 1: Cách giới thiệu sự kiện và giọng điệu trần thuật (trang 11)
Chú ý cách giới thiệu về sự kiện qua những chi tiết cụ thể và các yếu tố hé lộ giọng điệu trần thuật chính.
Trả lời:
- Người kể mở đầu bằng những con số và địa danh cụ thể: vé hạng bét ba đồng, hơn ba nghìn khán giả, một sân quần nổi tiếng ở Hà thành. Người kể còn tuyên bố trận đấu là “một chỗ rẽ ngoặt cho lịch sử thể thao”.
- Ngay câu thứ ba, giọng mỉa mai đã lộ rõ: những người đến muộn không mua được vé thì phẫn uất và “chết một cách rất thể thao”, tức là hút thuốc phiện, “tự tử dần dần bằng thuốc phiện”. Lối nói trang trọng đặt cạnh sự thật tầm thường tạo ra tiếng cười.
- Như vậy, giọng trần thuật chủ đạo của đoạn trích là giọng giễu nhại: bề ngoài như đang tường thuật một sự kiện trọng đại, bên trong là thái độ châm biếm cơn sốt thể thao rởm của xã hội thượng lưu thành thị.
Câu 2: Ấn tượng về Xuân Tóc Đỏ qua câu văn (trang 11)
Câu văn này có thể gợi lên ấn tượng gì về nhân vật Xuân Tóc Đỏ?
Trả lời:
Câu văn kể chuyện Tuyết an ủi ông bố, rằng danh dự gia đình vẫn có thể cứu vãn vì mọi người “còn hi vọng vào Xuân”. Xuân chưa xuất hiện mà đã được đặt vào vị trí vị cứu tinh của cả một gia đình danh giá. Ấn tượng tạo ra là một nhân vật đang lên như diều gặp gió, được giới thượng lưu tin cậy. Người đọc đã theo dõi cả cuốn tiểu thuyết thì nhận ra chỗ trớ trêu: niềm hi vọng của “gia đình văn minh” lại dồn vào một gã vốn xuất thân lang thang, nhặt bóng ở sân quần.
Câu 3: Giọng điệu khi miêu tả chân dung nhân vật (trang 11)
Người kể chuyện đã miêu tả chân dung các nhân vật bằng giọng điệu như thế nào?
Trả lời:
- Người kể dùng giọng trang trọng giả, liệt kê đủ chức tước từ trái sang phải trên khán đài như một bản tin chính thức: Toàn quyền, Thống sứ, vua An Nam, vua Xiêm.
- Xen vào đó là những chi tiết phóng đại đến buồn cười: chiếc mũ của vua Xiêm chín tầng, “trông như một cái tháp cao”; hai viên quan hầu người Đức, người Nhật được coi là bằng chứng nước Xiêm đang tiến bộ; người của Tổng cục thể thao thì cuống cuồng vì chưa thấy hai quán quân.
- Giọng điệu vì thế là mỉa mai, giễu nhại: càng tả long trọng, các nhân vật càng lộ vẻ phô trương, hình thức.
Câu 4: Bản chất cuộc “bài binh bố trận” của nhà nước thuộc địa (trang 12)
Đoạn văn cho thấy điều gì về bản chất của cuộc bài binh bố trận được nhà nước thuộc địa triển khai trước một sự kiện chính trị quan trọng?
Trả lời:
- Để đón vua Xiêm, bộ máy cảnh sát, mật thám dồn hết người ra phố hộ giá. Hai quán quân Hải và Thụ bị bắt giữ từ đêm trước, nằm ở sở mật thám mà không ai hay, vì “người ta chưa có người và chưa đủ thì giờ xét căn cước”.
- Tổng cục thể thao không biết sự thật, vội kết luận đó là sự phá hoại, “một vố chơi xỏ lại Tổng cục”, rồi chữa cháy bằng cách đưa Xuân ra thay.
- Cuộc bố trí rầm rộ hóa ra chỉ là sự phô trương bề ngoài, cẩu thả và rối loạn bên trong: bắt người tùy tiện, các cơ quan không hiểu nhau, ai cũng lo giữ thể diện. Chính sự lộn xộn ấy mở đường cho Xuân Tóc Đỏ bước lên sân khấu lớn.
Câu 5: Lí do hài lòng của các đối tượng tham gia (trang 13)
Lí do sự hài lòng của các đối tượng tham gia sự kiện đã được diễn tả như thế nào?
Trả lời:
- Công chúng vỗ tay ngay khi loa báo tin, vì tài của Hải, Thụ, Xuân họ đã xem nhiều lần, còn quán quân Xiêm thì chưa ai biết – họ hài lòng vì được xem cái lạ.
- Công chúng Pháp – Nam còn tự suy diễn rằng Tổng cục cố ý không cử hai nhà vô địch mà chỉ cử Xuân, người chưa từng đoạt chức quán quân, như một cách tỏ ra kiêu hãnh ngầm trước đối thủ. Thực ra Tổng cục đang bí, không còn ai khác.
- Văn Minh, ông bầu của Xuân, mừng rỡ vì “người của mình” được giao giữ danh dự cho Hà thành, cho Tổ quốc.
- Người kể diễn tả những lí do ấy bằng giọng nghiêm trang nhưng ai cũng thấy mỗi bên hài lòng vì một sự hiểu lầm hoặc một lợi ích riêng. Sự hài lòng càng hồn nhiên, tiếng cười càng sâu cay.
Câu 6: Hiệu quả của sự cường điệu khi tả vua Xiêm (trang 13)
Sự cường điệu trong cách miêu tả phản ứng của vua Xiêm đem lại hiệu quả nghệ thuật gì?
Trả lời:
- Vua Xiêm thấy quán quân nước mình thua thì “lộ ra mặt rồng tất cả sự thịnh nộ”, đến mức móc túi lấy tấm bản đồ “nước Xiêm cũ có bờ cõi ở núi Hoành Sơn” ra ngắm, bỏ mặc trận đấu; hai viên quan hầu thì thầm “La guerre! La guerre!”.
- Lối phóng đại biến một ván quần vợt thành nguy cơ chiến tranh giữa hai nước. Khoảng cách quá lớn giữa nguyên nhân (một séc đấu) và phản ứng (đòi đất, dọa chiến tranh) tạo nên tiếng cười.
- Qua đó, tác giả giễu cợt sự hiếu thắng, nhỏ nhen của giới cầm quyền, và gián tiếp cho thấy nền ngoại giao thời thuộc địa mong manh, hình thức đến mức có thể “đổ vỡ” vì một trái banh.
Câu 7: Động thái của quan chức nhằm cứu vãn tình hình (trang 14)
Các quan chức nhà nước có động thái gì nhằm cứu vãn tình hình? Các động thái đó có tính chất khôi hài như thế nào?
Trả lời:
- Động thái: ba nhân vật quyền lực nhất trên khán đài đưa mắt nhìn nhau; quan Toàn quyền ra hiệu lệnh; viên Giám đốc chính trị lập tức rời khán đài, gặp riêng Văn Minh ở chỗ vắng, yêu cầu Xuân “phải nhường, phải thua nhà vô địch Xiêm ngay đi”, hứa Chính phủ sẽ đền bù hậu hĩnh.
- Tính khôi hài:
+ Một vị quan cao cấp phải đích thân chạy xuống sân để dàn xếp tỉ số một trận quần vợt.
+ Lời lẽ đao to búa lớn (“có quan hệ mật thiết đến vận mệnh của đất nước”, tránh cho dân “cái nạn núi xương, sông máu”) được dùng cho một việc cỏn con là thua một ván bóng.
⇒ Cái gọi là giữ hòa bình thực chất là sự sợ hãi, khúm núm và trò dàn xếp sau lưng công chúng.
Câu 8: Nhịp điệu trần thuật ở đoạn kết thúc ván đấu (trang 15)
Nhịp điệu trần thuật ở đoạn này có điểm gì đáng chú ý?
Trả lời:
Nhịp kể ở đoạn này tăng tốc rõ rệt. Các vế câu chen nhau bằng cấu trúc lặp giữa lúc… giữa lúc…; tiếng hò reo của công chúng, tiếng hô của trọng tài, lời thì thầm hốt hoảng của ông bầu “Thua đi! Nhường đi!” bị dồn vào cùng một khoảnh khắc. Tỉ số nhích dần từng điểm, rồi đột ngột kết thúc bằng một quả lốp hỏng rơi vào hàng rào. Nhịp dồn dập tạo cảm giác hồi hộp như tường thuật trực tiếp, đồng thời làm nổi bật sự tương phản: khán đài bên dưới hồn nhiên cổ vũ, còn sau lưng họ là một cuộc dàn xếp vội vã. Ngay sau đó, nhịp chậm lại với bản quốc ca Pháp tấu mừng nhà vô địch Xiêm, khép lại cuộc vui trong sự ngơ ngác.
Câu 9: Liên tưởng tới thực tế sau một sự kiện thể thao, văn hóa (trang 16)
Bạn có liên tưởng gì đến thực tế thường diễn ra sau một sự kiện thể thao hay văn hóa mà bạn được biết?
Trả lời:
Cảnh khán giả chia phe, người muốn chia buồn, người muốn trách móc, người hô đả đảo; phóng viên vây quanh chất vấn; thợ ảnh chen nhau chụp hình… rất gần với những gì thường thấy hôm nay. Sau một trận bóng thua, mạng xã hội có thể ngập lời chỉ trích, thậm chí công kích cá nhân cầu thủ. Chỉ vài ngày sau, cũng chính đám đông ấy có thể quay ngoắt sang thần tượng hóa nhân vật vừa bị chê. Điều đó nhắc em phải giữ cái đầu tỉnh táo, đánh giá dựa trên sự thật chứ không chạy theo cảm xúc số đông.
Câu 10: Cách xưng hô của Xuân Tóc Đỏ (trang 16)
Cách xưng hô của nhân vật Xuân Tóc Đỏ có gì đáng chú ý?
Trả lời:
- Xuân gọi công chúng là “mi”, tự xưng “ta”: “Hỡi công chúng!”, “Quần chúng nông nổi ơi!”. Đây là kiểu xưng hô của bề trên với kẻ dưới, người kể gọi đó là “cái giọng trịch thượng của một bậc vĩ nhân”.
- Chỗ đáng cười là người nói vốn là gã vô học xuất thân từ đáy xã hội, nay đứng trên nóc xe hơi mắng mỏ mấy nghìn người như một lãnh tụ.
- Cách xưng hô ấy phơi bày sự ngông nghênh của Xuân khi gặp thời và cái thế đảo lộn của xã hội, nơi kẻ láu cá có thể lên giọng dạy dỗ cả đám đông.
Câu 11: Ý nghĩa của những ghi chú trong ngoặc đơn (trang 16)
Những ghi chú được đặt trong ngoặc đơn có ý nghĩa nghệ thuật như thế nào?
Trả lời:
- Các ghi chú “nó vỗ vào ngực”, “nó đấm tay xuống không khí”, “nó giơ cao tay lên”, “nó đập tay xuống” chen vào giữa bài diễn văn, giống lời chỉ dẫn sân khấu trong kịch bản.
- Chúng giúp người đọc “nhìn thấy” từng điệu bộ của Xuân: điệu bộ khoa trương, bắt chước các nhà hùng biện chính trị nhưng vụng về như một vai hề.
- Lời nói thì to tát (hi sinh, Tổ quốc, hòa bình thế giới), động tác thì lố lăng: sự vênh nhau ấy biến bài diễn thuyết thành một màn hài kịch. Cách gọi “nó” cũng cho thấy thái độ coi thường của người kể với nhân vật.
Câu 12: Từ ngữ khái quát phản ứng của đám đông (trang 17)
Có thể dùng những từ ngữ gì để khái quát về tính chất phản ứng của đám đông được thể hiện qua đoạn này?
Trả lời:
Có thể dùng các từ: nhẹ dạ, cả tin, a dua, dễ bị dắt mũi, đồng bóng, hiếu động mà mù quáng, thay đổi xoành xoạch. Mấy phút trước, đám đông còn hô “Quốc sỉ! Về nhà bò!”; nghe xong bài diễn văn, những người vừa bị gọi bằng mi lại “không những đã chẳng tức giận chút nào, lại còn vô cùng cảm phục”, vỗ tay vang dội và hô “Xuân Tóc Đỏ vạn tuế! Sự đại bại vạn tuế”. Từ phẫn nộ sang sùng bái chỉ trong chốc lát, đám đông tự phơi ra sự thiếu chính kiến của mình.
Soạn bài Xuân Tóc Đỏ cứu quốc – Sau khi đọc (trang 18)
Phần này gồm 8 câu hỏi, đi từ tóm tắt sự việc đến đánh giá nghệ thuật và liên hệ thực tế.
Câu 1: Tóm tắt sự việc chính bằng sơ đồ (trang 18)
Tóm tắt các sự việc chính được kể trong đoạn trích Xuân Tóc Đỏ cứu quốc bằng một sơ đồ phù hợp.
Trả lời:
Có thể dùng sơ đồ chuỗi sự kiện (mũi tên nối tiếp):
- Sáng hôm thi đấu, hơn ba nghìn người đến sân quần; gia đình cụ cố Hồng buồn vì bà Văn Minh thua, chỉ còn trông vào Xuân.
- → Hai quán quân Hải và Thụ vắng mặt (thực ra đã bị bắt giữ mà không ai hay); Tổng cục cử Xuân ra gặp tay vợt số một Xiêm La.
- → Xuân thắng séc đầu; vua Xiêm nổi giận, lôi bản đồ ra ngắm; quan chức Pháp – Nam lo sợ “chiến tranh”.
- → Một viên quan cao cấp ép ông bầu Văn Minh bảo Xuân thua; Xuân đánh hỏng quả cuối, thua chung cuộc.
- → Đám đông giận dữ, đòi giải thích, hô đả đảo Xuân.
- → Xuân trèo lên nóc xe hơi diễn thuyết về sự hi sinh vì hòa bình; đám đông chuyển sang hoan hô, Xuân lên xe ra về như một vĩ nhân.
Câu 2: Ngôi kể, điểm nhìn và ý nghĩa (trang 18)
Xác định ngôi kể, điểm nhìn được nhà văn lựa chọn và ý nghĩa của ngôi kể, điểm nhìn ấy trong việc làm sáng tỏ bản chất hiện thực theo khám phá và quan niệm của ông.
Trả lời:
- Ngôi kể: ngôi thứ ba, người kể không tham gia vào câu chuyện.
- Điểm nhìn: chủ yếu là điểm nhìn toàn tri – người kể biết cả những điều nhân vật trong truyện không biết (hai quán quân đang bị giam; ba vị trên khán đài đã ngầm thỏa thuận). Có lúc người kể mượn điểm nhìn của công chúng (“công chúng thấy rõ”, “những người không nông nổi đều hiểu ngay…”) để rồi lật lại cách hiểu của họ.
- Ý nghĩa: nhờ biết nhiều hơn mọi nhân vật, người kể đặt hai lớp sự thật cạnh nhau: lớp bề mặt (trận đấu danh dự, chính phủ yêu hòa bình, người hùng hi sinh) và lớp bên trong (bắt nhầm người, dàn xếp tỉ số, đám đông bị lừa). Khoảng vênh giữa hai lớp ấy chính là cái nhìn của Vũ Trọng Phụng về xã hội đương thời: mọi thứ đều giả, đều là một tấn trò hề được tô vẽ bằng những mĩ từ to tát.
Câu 3: Tình huống quan trọng nhất tạo kịch tính và bước ngoặt (trang 18)
Theo bạn, tình huống nào đóng vai trò quan trọng nhất trong việc tạo nên kịch tính và bước ngoặt của toàn bộ sự kiện được kể trong đoạn trích? Hãy phân tích tính chất của tình huống đó.
Trả lời:
- Tình huống quan trọng nhất: Xuân đang thắng thì bị buộc phải thua vì lí do “ngoại giao”, rồi chính trận thua ấy được biến thành chiến công cứu quốc.
- Tạo kịch tính: trận đấu vốn chỉ là chuyện thể thao bỗng gắn với chuyện chiến tranh – hòa bình giữa hai nước; tỉ số càng sát, áp lực từ khán đài càng lớn, người đọc càng hồi hộp chờ Xuân sẽ chọn danh dự hay mệnh lệnh.
- Tạo bước ngoặt: quả lốp hỏng đẩy Xuân từ vị trí niềm hi vọng xuống thành kẻ bị đả đảo; ngay sau đó, bài diễn văn lại đưa hắn lên đỉnh vinh quang. Hai lần đảo chiều liên tiếp trong vài trang làm nên cấu trúc chặt và bất ngờ.
- Tính chất: đây là tình huống trớ trêu, phi lí đến tột cùng (thắng thì có tội, thua lại thành anh hùng) nhưng vẫn có lô-gích hiện thực: một chính quyền thuộc địa sợ va chạm, một xã hội thích phô trương, một đám đông dễ bị dẫn dắt. Cái phi lí ấy là kết tinh của nghệ thuật phóng đại trào phúng.
Câu 4: Nét đặc sắc của cảnh Xuân Tóc Đỏ hùng biện (trang 18)
Phân tích nét đặc sắc của cảnh Xuân Tóc Đỏ hùng biện trước công chúng. Những ghi chú (được đặt trong ngoặc đơn) của người kể chuyện gợi cho bạn liên tưởng đến thể loại văn học nào có đặc điểm hình thức tương tự?
Trả lời:
- Sân khấu và vai diễn: Xuân đứng trên nóc chiếc xe hơi bà Phó Đoan, ông bầu đứng cạnh nhắc lời. Diễn giả thực chất là một con rối biết nói, còn khán giả là mấy nghìn người đang nổi giận.
- Nội dung bài nói: Xuân biến trận thua thành sự “hi sinh cao thượng”, dùng toàn khái niệm lớn: Tổ quốc, hòa bình, trật tự, ngoại giao, Hội Quốc liên. Hắn đánh tráo bản chất sự việc: từ chỗ thua vì bị ép, hắn tự nhận đã chủ động nhường để cứu nhân loại khỏi binh đao, khép lại bằng “Hoà bình vạn tuế! Hội Quốc liên vạn tuế!”.
- Ngôn ngữ: pha trộn giọng diễn văn chính trị với giọng mắng mỏ chợ búa (“mi”, “ta”), câu cảm thán dồn dập. Người kể nhận xét tài hùng biện ấy học được từ việc thổi loa cho hiệu thuốc lậu và chạy cờ quảng cáo cho rạp hát – một lời bóc mẽ sắc gọn.
- Hiệu quả: đám đông bị chinh phục hoàn toàn – đỉnh điểm của “số đỏ” mà Xuân gặp suốt cuốn tiểu thuyết.
- Liên tưởng thể loại: những lời chú đặt trong ngoặc đơn khiến ta nghĩ tới kịch, cụ thể là lời chỉ dẫn sân khấu trong kịch bản hài kịch, nơi tác giả ghi điệu bộ, hành động của nhân vật xen giữa lời thoại.
Câu 5: Ngôn ngữ người kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật (trang 18)
Nêu nhận xét khái quát về sự tương đồng và khác biệt giữa ngôn ngữ của người kể chuyện và ngôn ngữ của nhân vật ở đoạn trích Xuân Tóc Đỏ cứu quốc.
Trả lời:
- Tương đồng: cả hai đều ưa dùng từ ngữ trang trọng, Hán Việt, những khái niệm lớn (danh dự, Tổ quốc, vận mệnh, hòa bình) và đều mang màu sắc khoa trương, cường điệu. Chính sự gần nhau ấy tạo ra hiệu ứng giễu nhại.
- Khác biệt:
+ Ngôn ngữ nhân vật (Giám đốc chính trị, Văn Minh, Xuân) là lời nói “thật lòng” theo kiểu của họ: họ tin hoặc muốn người khác tin vào những mĩ từ đó; giọng thường hốt hoảng, gấp gáp hoặc lên gân.
+ Ngôn ngữ người kể là lời nhại lại, đặt mĩ từ vào đúng chỗ để lật tẩy; luôn kèm những lời bình chua cay, những chú thích ngầm, những nghịch ngữ khiến người đọc nhận ra mặt trái. - Nói gọn: nhân vật nói nghiêm túc mà thành lố bịch; người kể nói như nghiêm túc mà thực chất là mỉa mai.
Câu 6: Câu văn dùng nói mỉa và nghịch ngữ (trang 18)
Tìm những câu văn có sử dụng biện pháp tu từ nói mỉa và nghịch ngữ trong văn bản.
Trả lời:
| Biện pháp | Ví dụ trong văn bản | Tác dụng |
|---|---|---|
| Nói mỉa | Khán giả không mua được vé “chết một cách rất thể thao”; trận đấu được coi là “một chỗ rẽ ngoặt cho lịch sử thể thao”; “Những người không nông nổi đều hiểu ngay đó là Xuân để dành sức.” | Khen ngoài mặt, chê bên trong: giễu cơn sốt thể thao rởm, giễu sự đoán mò của đám đông. |
| Nói mỉa | Văn Minh “rất cảm động” khi được quan lớn gọi ra chỗ vắng; Xuân được ví “như một nhà chính trị đại tài của Tây phương”. | Vạch thói khúm núm và sự đề cao lố bịch một kẻ vô học. |
| Nghịch ngữ | “Sự đại bại vạn tuế”; “Như một bậc vĩ nhân nhũn nhặn, nó giơ quả đấm chào loài người”; ông bầu “thất thanh khẽ bảo nó”. | Ghép những từ trái nghĩa (thua – vạn tuế, nhũn nhặn – giơ quả đấm, thất thanh – khẽ) để phơi bày sự phi lí của tình huống và nhân vật. |
| Nghịch ngữ | Đám đông vừa bị gọi là “mi” lại “vô cùng cảm phục”; đoàn người ra về “bùi ngùi và cảm động” sau một trận thua. | Cảm xúc đặt sai chỗ, cho thấy đám đông bị thôi miên. |
Câu 7: Phong cách hiện thực của Vũ Trọng Phụng (trang 18)
Đoạn trích đã cho thấy điều gì về phong cách hiện thực của nhà tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng? Nêu một số thủ pháp được nhà văn sử dụng để tăng cường khả năng bao quát hiện thực cho các trang viết của mình.
Trả lời:
- Phong cách hiện thực: Vũ Trọng Phụng nhìn xã hội thành thị thời thuộc địa bằng con mắt hoài nghi, sắc lạnh. Ông không tả cái xấu đơn lẻ mà cho thấy cả một hệ thống lố bịch, từ vua chúa, quan Toàn quyền, Tổng cục thể thao đến giới thượng lưu “văn minh” và đám đông. Hiện thực trong văn ông là hiện thực trào phúng: cái thật được đẩy tới mức phi lí để lộ ra bản chất.
- Thủ pháp bao quát hiện thực:
+ Đặt một sự kiện nhỏ (trận quần vợt) vào bối cảnh lớn (chuyến thăm của vua Xiêm, quan hệ Pháp – Xiêm, Nam triều) để một trang viết soi được nhiều tầng xã hội.
+ Xây dựng cảnh đám đông với rất nhiều hạng người cùng xuất hiện: quan chức ba chính phủ, gia đình cụ cố Hồng, phóng viên, thợ ảnh, công chúng Pháp – Nam.
+ Dùng phóng đại, nói mỉa, nghịch ngữ, giễu nhại ngôn ngữ báo chí và diễn văn chính trị.
+ Xen lời bình của người kể ngay trong mạch truyện; tổ chức tình huống đảo ngược liên tục như hài kịch.
Câu 8: Suy nghĩ về trạng thái “bị thôi miên và lên đồng” của xã hội (trang 18)
Bạn suy nghĩ gì về trạng thái bị thôi miên và lên đồng của một xã hội, như thực tế được miêu tả trong đoạn trích?
Trả lời:
- Trong đoạn trích, đám đông đổi từ giận dữ sang sùng bái chỉ nhờ một bài diễn văn đầy chữ to tát. Họ không còn hỏi sự thật (vì sao Xuân thua) mà để cảm xúc tập thể cuốn đi. Đó là trạng thái “bị thôi miên”: mất khả năng tự suy xét; và “lên đồng”: hưng phấn quá mức, tung hô vô điều kiện.
- Một xã hội như thế rất nguy hiểm, vì kẻ cơ hội, khéo mồm có thể dễ dàng thao túng; giá trị thật – giả bị đảo lộn, cái thua thành cái thắng, kẻ vô học thành vĩ nhân.
- Ngày nay, tin giả và những cơn bão dư luận trên mạng cũng có thể khiến hàng triệu người cùng phẫn nộ hoặc cùng ca ngợi một điều chưa kiểm chứng.
- Bài học cho mỗi người: rèn tư duy phản biện, kiểm tra thông tin trước khi tin và lan truyền, không để đám đông nghĩ thay mình.
Kết nối đọc – viết (trang 18)
Đề bài yêu cầu viết một đoạn văn ngắn, dựa trên những gì em đã khai thác ở các câu hỏi phía trên.
Câu 1: Đoạn văn về khả năng của tiểu thuyết qua đoạn trích (trang 18)
Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) nêu ấn tượng của bạn về khả năng của tiểu thuyết trong việc diễn tả bức tranh đời sống, thời đại qua đoạn trích Xuân Tóc Đỏ cứu quốc.
Trả lời:
Đoạn văn tham khảo:
Qua vài trang viết về một trận quần vợt, nhà văn đã cho tôi thấy cả một xã hội thu nhỏ của Hà Nội những năm 1930. Trên khán đài là vua Xiêm, quan Toàn quyền, Đức vua nước nhà với những toan tính ngoại giao vừa sợ sệt vừa hiếu thắng; dưới sân là gia đình “văn minh” của cụ cố Hồng, ông bầu Văn Minh, phóng viên, thợ ảnh và mấy nghìn khán giả dễ nổi nóng cũng dễ tung hô. Trận đấu thể thao hóa thành sân khấu chính trị, còn kẻ vừa đánh thua lại được hoan hô như anh hùng. Tôi ấn tượng nhất là cách tiểu thuyết gom nhiều tầng lớp, nhiều giọng nói vào một sự kiện duy nhất, rồi dùng tiếng cười để bóc trần sự giả dối của cả thời đại. Đó là sức mạnh riêng của tiểu thuyết: vừa kể một câu chuyện cụ thể, vừa vẽ được chân dung tinh thần của một xã hội.
Kết luận
Xuân Tóc Đỏ cứu quốc khép lại tiểu thuyết Số đỏ bằng cú “thăng hoa” cuối cùng của Xuân: từ trận thua được dàn xếp, hắn trở thành người hùng trong mắt đám đông. Khi soạn bài, em cần nắm tình huống trớ trêu thắng – thua, điểm nhìn toàn tri của người kể, các biện pháp nói mỉa, nghịch ngữ, phóng đại và màn hùng biện mang dáng dấp hài kịch – những yếu tố làm nên ngòi bút trào phúng bậc thầy của Vũ Trọng Phụng.
Xem thêm: