Soạn bài Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội: một hằng số văn hóa Việt Nam giúp em chuẩn bị và trả lời đầy đủ các câu hỏi ở trang 94 – 97, Bài 4 (Văn bản thông tin), sách Ngữ văn 10 Cánh diều tập một. Đây là bài viết của nhà sử học Trần Quốc Vượng, lí giải vì sao văn hóa của mảnh đất kinh kì nghìn năm lại trở thành một giá trị bền vững, tiêu biểu cho văn hóa cả nước.
Tìm hiểu chung về văn bản Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội
Trước khi trả lời câu hỏi, em nên nắm vài thông tin về người viết, nguồn gốc và cách tổ chức thông tin của văn bản.

Tác giả Trần Quốc Vượng
Trần Quốc Vượng (1934 – 2005) là giáo sư ngành sử, đồng thời là nhà khảo cổ học, nhà nghiên cứu văn hóa hàng đầu của Việt Nam. Ông gắn bó cả đời với Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn), nơi ông giảng dạy ở Khoa Lịch sử, được giới sử học coi là một trong bốn gương mặt tiêu biểu của nền sử học hiện đại, bên cạnh Hà Văn Tấn, Phan Huy Lê và Đinh Xuân Lâm.
Ông đi điền dã khắp nơi, viết hàng trăm bài nghiên cứu và nhiều cuốn sách về lịch sử, địa văn hóa, văn hóa dân gian, làng nghề. Một số công trình tiêu biểu: Theo dòng lịch sử (1995), Việt Nam – cái nhìn địa văn hóa (1998), Văn hóa Việt Nam – tìm tòi và suy ngẫm (2000), Hà Nội như tôi hiểu (2005). Lối viết của ông giàu tri thức liên ngành nhưng vẫn gần gũi, có chất tài hoa riêng.
Xuất xứ, thể loại, bố cục
- Xuất xứ: theo chú thích cuối văn bản trong SGK, bài in trong Văn hóa Hà Nội: tìm tòi và suy ngẫm, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2010.
- Thể loại: thuộc loại thông tin tổng hợp, có lồng ghép yếu tố nghị luận và tự sự.
- Bố cục: hai phần.
- Phần 1 (đoạn đầu): quá trình hình thành văn hóa Thăng Long – Hà Nội từ nguồn dân gian bốn phương và sự nâng đỡ của triều đình.
- Phần 2 (các đoạn còn lại): lối sống thanh lịch của người Hà Nội cùng những lí do tạo nên lối sống ấy.
Nội dung và nghệ thuật
- Nội dung: văn bản cho thấy văn hóa Hà Nội hình thành nhờ sự hội tụ, chọn lọc tinh hoa cả nước qua nhiều triều đại; người Hà Nội nhờ đó mà tài giỏi, tinh tế, có phong cách sống thanh lịch. Qua đó tác giả khẳng định giá trị bền vững của văn hóa Thủ đô trong văn hóa dân tộc.
- Nghệ thuật: thông tin chọn lọc, đi từ khái quát đến cụ thể; kết hợp tri thức địa lí, lịch sử, văn hóa, văn học; dẫn ca dao, tục ngữ làm bằng chứng; lời văn vừa khách quan vừa chứa niềm tự hào của người viết.
Soạn bài Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội – Chuẩn bị (trang 94 – 95)
Phần Chuẩn bị yêu cầu em xem lại Kiến thức ngữ văn về thể loại thông tin tổng hợp, đọc trước văn bản và tìm hiểu một số thông tin liên quan.
Câu 1: Lịch sử, ý nghĩa của các tên gọi Thăng Long, Đông Đô, Hà Nội
Đọc trước văn bản, tìm hiểu lịch sử, ý nghĩa của các tên gọi “Thăng Long”, “Đông Đô”, “Hà Nội”.
Trả lời:
- Thăng Long: năm 1010, vua Lý Thái Tổ rời Hoa Lư, chuyển kinh đô ra thành Đại La. Sử cũ chép rằng khi thuyền vua tới chân thành, có rồng vàng bay lên, vua bèn đặt tên mới là Thăng Long, nghĩa là rồng bay lên. Cái tên gửi gắm khát vọng về một đất nước vươn mình, hưng thịnh.
- Đông Đô: cuối thế kỉ XIV, Hồ Quý Ly cho xây thành mới ở Thanh Hóa (gọi là Tây Đô) và dời triều đình vào đó. Từ năm 1397, Thăng Long được gọi là Đông Đô, tức kinh đô phía đông, để phân biệt với Tây Đô.
- Hà Nội: năm 1831, vua Minh Mạng chia lại đơn vị hành chính cả nước, lập tỉnh Hà Nội gồm vùng kinh thành cũ và các phủ lân cận. Tên gọi có nghĩa là vùng đất nằm phía trong các dòng sông, vì khu vực này được sông Hồng và sông Đáy bao quanh. Từ đó đến nay, Hà Nội trở thành tên gọi chính thức của Thủ đô.
Ngoài ba tên này, mảnh đất ấy còn có nhiều tên khác qua các thời kì như Tống Bình, Long Biên, Đại La, Bắc Thành, Đông Kinh, Đông Quan… Mỗi tên gọi là một lát cắt lịch sử.
Câu 2: Thông tin về nhà sử học Trần Quốc Vượng
Tìm hiểu thông tin về nhà sử học Trần Quốc Vượng.
Trả lời:
Em có thể ghi tóm tắt như sau: Trần Quốc Vượng sinh năm 1934, mất năm 2005, là giáo sư đầu ngành về khảo cổ học, sử học và văn hóa học; nhiều năm giảng dạy ở Đại học Tổng hợp Hà Nội, đào tạo nhiều thế hệ nhà nghiên cứu. Ông có những công trình lớn về văn hóa dân gian và địa văn hóa, đặc biệt yêu quý và am hiểu Hà Nội. Chính vốn hiểu biết sâu rộng ấy giúp văn bản trong SGK vừa có sức nặng tri thức, vừa có hồn.
Soạn bài Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội – Câu hỏi trong khi đọc (trang 95 – 96)
Hai câu hỏi bên lề giúp em nắm ý chính của từng phần khi đang đọc.
Câu 1: Văn hóa Hà Nội được hình thành dựa trên sự kết hợp của những yếu tố nào? (trang 95)
Trả lời:
- Vốn dân gian của bốn phương: dân ca, ca dao, chèo, tục ngữ, truyện cổ tích, múa rối từ các vùng Đông, Nam, Đoài, Bắc dồn về kinh đô, được lọc lựa, nâng lên trên nền sẵn có của vùng Hồ Tây, Hồ Gươm, núi Nùng.
- Tín ngưỡng và lễ hội: triều Lý, Trần đưa việc thờ các anh hùng dân tộc về phố phường; dân các làng ra kinh kì sinh sống cũng mang theo thần làng và lễ hội của quê mình.
- Sự nâng đỡ của nhà nước: các triều Lý – Trần – Lê đưa đua thuyền, đấu vật, múa rối nước… lên làm quốc lễ với đội hình riêng, sân khấu và trang phục chỉn chu hơn.
- Sự hòa hợp giữa hai dòng văn hóa: cái dân dã gặp cái cung đình, được trau chuốt cho sang trọng, cộng thêm nếp sống phong lưu do buôn bán, làm nghề phát triển.
Câu 2: Điều gì đã tạo nên nếp sống thanh lịch của người Hà Nội? (trang 96)
Trả lời:
Nếp sống thanh lịch được hun đúc dần qua một chuỗi nguyên nhân nối tiếp nhau:
- Người tài khắp nơi tụ về kinh đô, thi thố và học hỏi lẫn nhau, khiến người Hà Nội giỏi việc, giỏi nghề, giỏi cả dạy học.
- Sống ở nơi buôn bán sầm uất, đón hàng hóa muôn nơi, người ta có nhu cầu và có điều kiện kén chọn, từ đó hình thành các làng ven đô chuyên làm đặc sản và các phố nghề trong thành.
- Kén chọn lâu ngày tạo nên sự sành sỏi trong ăn mặc, sự khéo léo trong làm ăn.
- Truyền thống hiếu học và việc tiếp xúc với nhiều luồng thông tin khiến người Hà Nội nhạy bén, tinh tế.
- Trên nền đời sống vật chất phong lưu, tinh thần phong phú và bề dày nghìn năm văn hiến, cách sống của họ dần trở nên nhã nhặn, chừng mực, sang mà không phô trương.
Soạn bài Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội – Câu hỏi sau khi đọc (trang 97)
Sáu câu hỏi sau khi đọc tập trung vào nhan đề, đề tài, cách triển khai thông tin và giá trị của văn bản.
Câu 1: Thông tin chính qua nhan đề và cách hiểu “hằng số văn hóa” (trang 97)
Nhan đề của văn bản giúp người viết nêu bật được thông tin chính nào? Em hiểu thế nào là “hằng số văn hóa”?
Trả lời:
- Thông tin chính: nhan đề có hai vế. Vế đầu xếp ba tên gọi theo dòng thời gian, gợi bề dày lịch sử nghìn năm của kinh đô. Vế sau đưa ra nhận định trung tâm: văn hóa nơi đây là một giá trị không đổi, góp phần làm nên diện mạo của văn hóa cả nước. Đọc nhan đề, người đọc biết ngay văn bản sẽ bàn về văn hóa Thủ đô và vị trí của nó.
- “Hằng số văn hóa”: trong toán học, hằng số là đại lượng giữ nguyên giá trị. Mượn khái niệm ấy, tác giả muốn nói đến những nét văn hóa đã kết tinh lâu đời, có tính ổn định, không bị thời gian hay hoàn cảnh xóa nhòa, luôn hiện diện như một phần cốt lõi của bản sắc dân tộc. Văn bản kết thúc bằng chính nhận định văn hóa Thăng Long là một “hằng số tuyệt vời” của văn hóa Việt Nam.
Câu 2: Đề tài của văn bản và căn cứ xác định (trang 97)
Đề tài của văn bản trên là gì? Em dựa vào đâu để xác định điều đó?
Trả lời:
- Đề tài: bài viết hướng tới văn hóa cùng con người đất kinh kì Thăng Long – Hà Nội.
- Căn cứ:
- Nhan đề nêu trực tiếp đối tượng: văn hóa của kinh đô qua ba tên gọi.
- Phần 1 nói về con đường văn hóa Hà Nội ra đời; phần 2 nói về nếp sống, tính cách người Hà Nội.
- Các dẫn chứng (lễ hội, sản vật, ca dao, danh nhân) đều gắn với Hà Nội.
Câu 3: Thông tin chính trong từng phần được làm rõ qua những phương diện nào? (trang 97)
Trong từng phần, thông tin chính của văn bản đã được làm rõ qua những phương diện nào?
Trả lời:
| Phần | Thông tin chính | Các phương diện làm rõ |
|---|---|---|
| Phần 1 | Văn hóa Thăng Long – Hà Nội hình thành từ sự hội tụ và nâng cao văn hóa dân gian cả nước. | Địa lí (vị trí trung tâm của lưu vực sông Hồng); nguồn gốc (vốn dân gian bốn vùng); lịch sử (chính sách của các triều Lý, Trần, Lê); tín ngưỡng, lễ hội; sự hòa hợp dân gian – cung đình; chú thích trong ngoặc đơn để giải nghĩa thuật ngữ, tên người. |
| Phần 2 | Người Hà Nội có nếp sống thanh lịch. | Chuỗi nguyên nhân – kết quả (tài giỏi → kén chọn → sành sỏi → thanh lịch); đời sống kinh tế (làng nghề, phố nghề, bốn chợ lớn); giáo dục (Quốc Tử Giám, Giảng Võ đường); danh nhân văn võ; ca dao, tục ngữ dẫn chứng. |
Có thể thấy, ở mỗi phần tác giả đều nêu nhận định trước rồi mới đưa thông tin cụ thể để chứng minh, giúp người đọc dễ theo dõi.
Câu 4: Các lĩnh vực thông tin được huy động và biểu hiện cụ thể (trang 97)
Để giúp người đọc hiểu đặc điểm của văn hóa Thăng Long – Hà Nội, tác giả đã huy động, kết nối thông tin từ những lĩnh vực nào? Hãy chỉ ra biểu hiện cụ thể của các loại thông tin ấy (ví dụ: thông tin địa lí – Hà Nội là “thủ đô tự nhiên của lưu vực sông Hồng, của miền Bắc Việt Nam”).
Trả lời:
- Địa lí: vị trí trung tâm của Hà Nội; bốn vùng Đông, Nam, Đoài, Bắc quanh kinh đô; cảnh quan Hồ Tây, Hồ Gươm, núi Nùng, núi Khán; bốn chợ trước bốn cửa thành.
- Lịch sử: triều Lý, Trần lập nơi thờ Hai Bà Trưng, Phù Đổng, Mai Hắc Đế, Bố Cái Đại Vương; nhà nước Lý – Trần – Lê nâng trò diễn dân gian thành quốc lễ; trường Văn, trường Võ có từ thế kỉ XI; các anh hùng như Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Toản.
- Văn hóa – xã hội: vốn văn nghệ dân gian (chèo, múa rối, dân ca…); các hội đấu vật, đua thuyền, tung còn; làng ven đô làm đặc sản, phố phường thủ công; truyền thống hiếu học; lối sống phong lưu.
- Văn học: các câu ca dao về cốm Vòng, hồng Bạch Hạc, về người Thượng Kinh; tên tuổi những người làm nên Thăng Long văn hiến như Chu An, Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan.
Sự kết nối nhiều lĩnh vực giúp văn hóa Hà Nội hiện lên toàn diện, có cơ sở khoa học mà vẫn sinh động.
Câu 5: Phương thức kết hợp với thuyết minh và mục đích (trang 97)
Theo em, văn bản đã sử dụng phương thức thuyết minh kết hợp với những phương thức nào (biểu cảm, tự sự, nghị luận,…)? Hãy chỉ ra và phân tích mục đích của việc lồng ghép các yếu tố đó trong bài viết.
Trả lời:
- Thuyết minh là phương thức chính: cung cấp thông tin về vị trí, nguồn gốc, các lễ hội, sản vật, trường học của Thăng Long – Hà Nội.
- Tự sự: kể lại theo trình tự lịch sử việc các triều đại đưa tín ngưỡng, lễ hội về kinh đô và nâng chúng thành quốc lễ. Yếu tố kể giúp thông tin có mạch thời gian, dễ hình dung quá trình.
- Nghị luận: mỗi phần đều có nhận định (văn hóa Hà Nội là sự hội tụ; người Hà Nội thanh lịch) kèm lí lẽ theo quan hệ nhân – quả và dẫn chứng. Nhờ vậy văn bản không chỉ cho biết mà còn thuyết phục người đọc vì sao lại như thế.
- Biểu cảm: thấp thoáng trong cách dùng từ ngợi ca (sang trọng, hào hoa, thanh thoát) và lời kết khẳng định đầy tự hào.
Mục đích chung: làm cho thông tin chính xác, chặt chẽ và hấp dẫn, đồng thời khơi dậy ở người đọc niềm trân trọng với văn hóa Thủ đô.
Câu 6: Kiến thức mới, đặc điểm yêu thích và văn hóa quê hương em (trang 97)
Văn bản đã đem đến cho em những kiến thức nào mới? Em thích nhất đặc điểm nào của văn hóa Hà Nội được đề cập tới trong bài? Hãy nêu lên một số nét đặc sắc về văn hóa của vùng miền hoặc quê hương của em.
Trả lời:
Em có thể trả lời theo hiểu biết riêng. Gợi ý:
- Kiến thức mới: văn hóa Hà Nội không tự nhiên mà có, nó là kết quả của sự dồn tụ văn hóa dân gian từ khắp các vùng, được nhà nước các thời nâng lên; nếp sống thanh lịch bắt nguồn từ điều kiện kinh tế, giáo dục và giao lưu chứ không chỉ là phẩm chất bẩm sinh.
- Đặc điểm em thích nhất: sự thanh lịch hài hòa của người Hà Nội, sang trọng nhưng không xa hoa, cởi mở nhưng vẫn giữ chừng mực. Đó là cách sống đẹp mà người trẻ ở đâu cũng có thể học theo.
- Văn hóa quê hương (ví dụ Huế): nhã nhạc cung đình đã được UNESCO ghi danh; ẩm thực cầu kì với bún bò, các loại bánh nhỏ xinh; tà áo dài tím và chiếc nón bài thơ; giọng nói nhỏ nhẹ; lối sống trầm tĩnh, trọng lễ nghĩa. Nếu quê em ở vùng khác, hãy chọn lễ hội, món ăn, làn điệu dân ca hoặc nghề truyền thống tiêu biểu để giới thiệu.
Kết luận
Văn bản của Trần Quốc Vượng giúp em hiểu văn hóa Thăng Long – Hà Nội là nơi tụ hội tinh hoa của cả nước, được chọn lọc qua nghìn năm và kết tinh thành phong cách sống thanh lịch của người Thủ đô. Khi soạn bài, em cần nắm hai phần chính, cách kết nối thông tin từ nhiều lĩnh vực, sự lồng ghép thuyết minh với tự sự, nghị luận và ý nghĩa của khái niệm hằng số văn hóa.
Xem thêm: