Bài thơ Mưa xuân của Nguyễn Bính là văn bản đọc chính thứ hai trong Bài 7 “Hồn thơ muôn điệu”, Ngữ văn 9 Kết nối tri thức tập 2. Bài viết tổng hợp toàn văn bài thơ, thông tin về tác giả Nguyễn Bính, hoàn cảnh sáng tác, thể thơ, bố cục, giá trị nội dung – nghệ thuật và sơ đồ tư duy để em ôn tập nhanh. Đây là bài “Em là con gái trong khung cửi…” (1936), không phải bài Mưa xuân (II) năm 1958 học ở Ngữ văn 8 Chân trời sáng tạo.
Nội dung văn bản Mưa xuân
Toàn văn bài thơ theo SGK Ngữ văn 9 Kết nối tri thức (Nguyễn Bính mất năm 1966, tác phẩm đã thuộc phạm vi công cộng):

Em là con gái trong khung cửi
Dệt lụa quanh năm với mẹ già
Lòng trẻ còn như cây lụa trắng
Mẹ già chưa bán chợ làng xa.
Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy
Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ,
Mẹ bảo: “Thôn Đoài hát tối nay”
Lòng thấy giăng tơ một mối tình
Em ngừng thoi lại giữa tay xinh
Hình như hai má em bừng đỏ
Có lẽ là em nghĩ đến anh.
Bốn bên hàng xóm đã lên đèn
Em ngửa bàn tay trước mái hiên
Mưa chấm bàn tay từng chấm lạnh
Thế nào anh ấy chả sang xem!
Em xin phép mẹ, vội vàng đi
Mẹ bảo xem về kể mẹ nghe.
Mưa bụi nên em không ướt áo
Thôn Đoài cách có một thôi đê.
Thôn Đoài vào đám hát thâu đêm
Em mải tìm anh chả thiết xem.
Chắc hẳn đêm nay giường cửi lạnh,
Thoi ngà nằm nhớ ngón tay em.
Chờ mãi anh sang anh chẳng sang
Thế mà hôm nọ hát bên làng
Năm tao bảy tuyết anh hò hẹn
Để cả mùa xuân cũng nhỡ nhàng!
Mình em lầm lụi trên đường về
Có ngắn gì đâu một dải đê!
Áo mỏng che đầu mưa nặng hạt
Lạnh lùng thêm tủi với canh khuya.
Bữa ấy mưa xuân đã ngại bay
Hoa xoan đã nát dưới chân giày
Hội chèo làng Đặng về ngang ngõ
Mẹ bảo: “Mùa xuân đã cạn ngày.”
Anh ạ! Mùa xuân đã cạn ngày
Bao giờ em mới gặp anh đây?
Bao giờ hội Đặng đi ngang ngõ
Để mẹ em rằng hát tối nay?
(1936)
Ghi chú: một số tuyển tập in khác SGK vài chữ, ví dụ “Mưa thấm bàn tay”, “Mưa nhỏ nên em không ướt áo”, “Để cả mùa xuân cũng bẽ bàng”, “Lạnh lùng em tủi với đêm khuya”. Khi làm bài, em nên trích theo bản in trong SGK.
Thông tin tác giả Nguyễn Bính
Nguyễn Bính (1918 – 1966) tên thật là Nguyễn Trọng Bính, sinh tại làng Thiện Vịnh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định (nay thuộc tỉnh Ninh Bình). Ông mồ côi mẹ từ rất nhỏ, học chữ Hán với cha và người cậu, sớm bộc lộ năng khiếu làm thơ. Năm 1937, tập thơ Tâm hồn tôi của ông được giải khuyến khích của Tự Lực văn đoàn, đưa tên tuổi Nguyễn Bính đến với độc giả Thơ mới.
Trong kháng chiến chống Pháp, ông vào Nam Bộ tham gia hoạt động văn nghệ kháng chiến; sau năm 1954 tập kết ra Bắc, làm báo và tiếp tục sáng tác, từng phụ trách tờ báo Trăm hoa. Ông mất đột ngột ngày 20 tháng 1 năm 1966. Năm 2000, Nguyễn Bính được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
Nguyễn Bính được xem là nhà thơ “chân quê” tiêu biểu nhất của phong trào Thơ mới. Giữa lúc nhiều nhà thơ cùng thời tìm đến thi pháp phương Tây, ông gắn bó với cảnh quê, người quê, với thể thơ lục bát và bảy chữ, với lời ăn tiếng nói giản dị như ca dao. Nhà phê bình Hoài Thanh nhận xét thơ ông “đánh thức người nhà quê vẫn ẩn náu trong lòng ta”. Tìm hiểu thêm ở bài phong cách sáng tác Nguyễn Bính.
Tác phẩm chính: Lỡ bước sang ngang (1940), Tâm hồn tôi (1940), Hương cố nhân (1941), Mười hai bến nước (1942), Gửi người vợ miền Nam (1955), Nước giếng thơi (1957)… Nhiều bài thơ của ông đã trở nên quen thuộc như Chân quê, Tương tư, Lỡ bước sang ngang, Những bóng người trên sân ga. Đọc thêm tuyển tập thơ Nguyễn Bính.
Thông tin tác phẩm Mưa xuân
Mưa xuân được sáng tác năm nào? In trong tập thơ nào?
Bài thơ được sáng tác năm 1936, khi Nguyễn Bính mới 18 tuổi, sau đó in trong tập Lỡ bước sang ngang (1940). Văn bản trong SGK được trích từ Tuyển tập Nguyễn Bính (NXB Văn học).
Hoàn cảnh sáng tác bài thơ Mưa xuân
Mưa xuân ra đời trong những năm đầu sự nghiệp của Nguyễn Bính, khi phong trào Thơ mới đang phát triển mạnh. Bằng vốn sống của một người con làng quê Bắc Bộ, nhà thơ dựng lại không khí mùa xuân với mưa bụi, hoa xoan, hội chèo – những nét văn hóa làng quê đang dần phai nhạt trước làn sóng đô thị hóa lúc bấy giờ.
Thể thơ và phương thức biểu đạt
- Thể thơ: bảy chữ, 10 khổ, mỗi khổ 4 dòng; vần chân, nhịp chủ yếu 4/3.
- Phương thức biểu đạt chính: biểu cảm, kết hợp tự sự (kể một câu chuyện tình) và miêu tả (cảnh mưa xuân, làng quê).
- Nhân vật trữ tình: cô gái dệt lụa xưng “em”.
Bố cục bài thơ Mưa xuân có mấy phần?
Bài thơ có thể chia làm 4 phần theo diễn biến câu chuyện:
- Phần 1 (khổ 1): lời tự giới thiệu của cô gái dệt lụa.
- Phần 2 (khổ 2 – 5): mưa xuân, hội chèo về; tình cảm chớm nở, háo hức đi xem hát.
- Phần 3 (khổ 6 – 8): tìm anh không gặp, trách móc và buồn tủi ra về.
- Phần 4 (khổ 9 – 10): xuân tàn, lời nhắn gửi và niềm mong chờ.
Một số tài liệu gộp lại thành 3 phần: khổ 1 (tự bạch), khổ 2 – 8 (mùa xuân và câu chuyện hẹn hò), khổ 9 – 10 (xuân vãn và niềm hi vọng). Hai cách chia đều hợp lí.
Giá trị nội dung
- Vẽ nên bức tranh làng quê Bắc Bộ ngày xuân bình dị, thơ mộng: mưa bụi, hoa xoan, khung cửi, hội chèo, con đê nối hai thôn.
- Kể lại mối tình đầu trong trẻo, e ấp mà lỡ làng của cô gái quê; diễn tả tinh tế diễn biến tâm trạng từ xao xuyến, háo hức đến hụt hẫng, tủi buồn và khắc khoải hi vọng.
- Thể hiện tình yêu, sự trân trọng của nhà thơ với vẻ đẹp tâm hồn người con gái nông thôn và những nét văn hóa truyền thống của làng quê Việt Nam.
Giá trị nghệ thuật
- Thể thơ bảy chữ nhịp nhàng, vần chân liền mạch, giọng điệu tâm tình như lời kể.
- Kết hợp tự sự với trữ tình: bài thơ có cốt truyện, nhân vật, lời thoại (lời mẹ), nhưng vẫn đậm chất trữ tình.
- Bút pháp tả cảnh ngụ tình: cảnh mưa, hoa xoan, con đê đổi thay theo tâm trạng cô gái.
- Ngôn ngữ mộc mạc, gần ca dao; biện pháp so sánh (“Lòng trẻ còn như cây lụa trắng”), nhân hóa (“Thoi ngà nằm nhớ ngón tay em”), kết cấu đầu cuối tương ứng (khổ 2 và khổ 9 – 10).
Ý nghĩa nhan đề Mưa xuân
“Mưa xuân” trước hết là hình ảnh thiên nhiên xuyên suốt bài thơ, làm nền cho câu chuyện. Mưa xuân còn gợi tuổi xuân và tình xuân của cô gái: mưa “phơi phới” khi lòng cô rạo rực, mưa “nặng hạt” khi cô tủi buồn, mưa “đã ngại bay” khi mùa xuân và cuộc hẹn cùng qua đi. Nhan đề vì thế vừa tả cảnh, vừa gợi tình.
Sơ đồ tư duy Mưa xuân
Sơ đồ dưới đây tóm tắt 6 nội dung cần nhớ khi học bài thơ.

Lời kết
Mưa xuân là bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ “chân quê” của Nguyễn Bính: một câu chuyện tình nhỏ, giản dị, đặt trong khung cảnh làng quê Bắc Bộ, được kể bằng thể thơ bảy chữ nhịp nhàng và ngôn ngữ đậm chất ca dao. Nắm chắc tác giả, bố cục, diễn biến tâm trạng cô gái và nghệ thuật tả cảnh ngụ tình, em sẽ làm tốt cả phần đọc hiểu lẫn bài viết về tác phẩm.
Xem thêm:
- Giới thiệu nhà thơ Nguyễn Bính
- Phân tích, cảm nhận bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính
- Soạn bài Chân quê (Nguyễn Bính)