Soạn bài Màn diễu hành – trình diện quan thanh tra (trích hài kịch Quan thanh tra của N. Gô-gôn) hướng dẫn trả lời toàn bộ câu hỏi trang 127 – 135 SGK Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo tập một, Bài 5 Tiếng cười trên sân khấu. Các câu trả lời bám sát từng lớp kịch, có dẫn chứng lời thoại và chỉ dẫn sân khấu để em dễ nắm bài.
Tìm hiểu chung về đoạn trích Màn diễu hành – trình diện quan thanh tra
Đoạn trích là hồi IV của vở kịch, nơi các quan chức lần lượt vào “trình diện” kẻ mà họ tưởng là quan thanh tra.

- Tác giả: N. Gô-gôn (Nikolai Gogol, 1809 – 1852), nhà văn, nhà soạn kịch Nga, bậc thầy của tiếng cười trào phúng.
- Vở kịch: Quan thanh tra (1836) gồm năm hồi, xoay quanh chuyện quan chức một thị trấn nhầm viên chức nhỏ Khle-xta-kốp là quan thanh tra từ Pê-téc-bua.
- Vị trí đoạn trích: hồi IV, từ lớp 1 đến lớp 9 (lớp 7 và lớp 9 được lược dẫn). Mọi sự việc diễn ra trong một căn phòng nhà thị trưởng, sau đêm Khle-xta-kốp được thết đãi và ngủ lại.
- Bản dịch: Vũ Đức Phúc, NXB Lao động, 2009.
Bố cục đoạn trích (theo các lớp kịch):
- Lớp 1: các quan chức bàn nhau cách đưa tiền cho “quan thanh tra”, đùn đẩy nhau vào trước.
- Lớp 2: Khle-xta-kốp ngủ dậy, độc thoại, khoan khoái vì được tiếp đãi.
- Lớp 3 – 7: lần lượt chánh án, trưởng bưu cục, kiểm học, quản lí Viện tế bần và hai viên địa chủ vào trình diện; ai cũng bị hắn “hỏi vay” tiền.
- Lớp 8: Khle-xta-kốp một mình đếm tiền, nhận ra mình bị tưởng là một chính khách, định viết thư kể chuyện cho bạn.
- Lớp 9: các nhà buôn đến khiếu nại thị trưởng; hắn nhập vai “quan lớn”, vừa hứa soi xét vừa nhận lễ vật, vay thêm tiền.
Chuẩn bị đọc
Câu 1: Phản ứng khi có đoàn đánh giá đến lớp (trang 127)
Giả định có đoàn đánh giá “Vì một môi trường xanh – sạch – đẹp quanh ta” đến lớp bạn, phản ứng tự nhiên của bạn là gì?
Trả lời:
- Phản ứng tự nhiên của em là hơi hồi hộp, muốn lớp mình được đánh giá tốt nên sẽ cùng các bạn quét dọn, lau bàn ghế, tưới cây, sắp xếp lại góc học tập.
- Tuy nhiên, em nghĩ lớp học chỉ thật sự “xanh – sạch – đẹp” khi được giữ gìn hằng ngày. Nếu lớp vốn sạch sẽ thì đoàn đến bất cứ lúc nào cũng không cần lo lắng; còn chỉ lo dọn dẹp để đối phó thì đó là thành tích giả. Chính tâm lí đối phó ấy sẽ bị Gô-gôn đẩy lên thành trò cười trong đoạn trích.
Trải nghiệm cùng văn bản
Câu 1: Lời đối thoại bộc lộ tính cách từng nhân vật (trang 127)
Theo dõi: Chú ý lời đối thoại bộc lộ tính cách của từng nhân vật.
Trả lời: (lớp 1)
- Chánh án: ra vẻ chỉ huy, sắp mọi người đứng “Theo kiểu nhà binh, nhất thiết phải theo kiểu nhà binh.” nhưng lại rụt rè, đẩy người khác vào gặp trước. Đó là kẻ hình thức, hèn nhát.
- Quản lí Viện tế bần: cáo già, thạo việc đút lót, bày cách “Phải lần lượt, từng người một, vào yết kiến Ngài” để không lọt đến tai người khác, lại còn mỉa mai gọi đó là cách dàn xếp của “một xã hội được tổ chức tốt”.
- Trưởng bưu cục: ranh vặt, gợi ý nói dối là tiền ai gửi qua bưu điện.
- Kiểm học: nhút nhát, khiếp nhược trước cấp trên, thú nhận “tôi cứ như người mất hồn, lưỡi ríu cả lại”.
⇒ Qua lời thoại, cả bọn hiện ra như một tập thể quan lại quen đút lót, chỉ lo che giấu sai phạm.
Câu 2: Dự đoán cách cư xử của Khle-xta-kốp ở các lớp kịch tiếp theo (trang 129)
Dự đoán: Ở những lớp kịch tiếp theo (trước khi biết mình bị nhầm là quan thanh tra), Khle-xta-kốp sẽ cư xử như thế nào?
Trả lời:
Qua đoạn độc thoại ở lớp 2 (hắn khoái vì được tiếp đón thân mật, thấy “Xem chừng ở đây chơi ít bữa cũng khoái.”), em dự đoán Khle-xta-kốp sẽ tiếp tục vô tư tận hưởng sự chiều chuộng, tiếp các vị khách một cách thoải mái, khách sáo, và nhân lúc họ tỏ ra niềm nở thì hỏi vay tiền để giải quyết cảnh túng quẫn. Hắn chưa hiểu vì sao được đối đãi như vậy nên có lẽ sẽ tưởng các quan chức chỉ là những người tốt bụng.
Câu 3: Lời nói riêng bộc lộ nét tính cách gì của từng nhân vật? (trang 129)
Suy luận: Lời nói riêng bộc lộ nét tính cách gì của từng nhân vật?
Trả lời:
- Chánh án: các lời nói riêng như “Cứ y như ở trên bàn chông ấy.”, “Trời ơi, tôi bị đưa ra toà rồi.” và khi ra về “Thôi, thế là thoát nạn rồi!” cho thấy hắn hèn nhát, có tật giật mình, đút lót xong mới hoàn hồn.
- Khle-xta-kốp: nói về chánh án “Tay chánh án này tốt bụng đấy chứ nhỉ!” – một nhận xét ngây ngô, cho thấy hắn vô tư, chưa hiểu mình đang được hối lộ, chỉ thấy có tiền là vui.
Câu 4: Thái độ của Khle-xta-kốp với viên kiểm học thay đổi ra sao? (trang 132)
Theo dõi: Chú ý thái độ của Khle-xta-kốp với viên Kiểm học có sự thay đổi so với hai vị khách trước.
Trả lời:
- Với chánh án và trưởng bưu cục, hắn còn khá lịch sự, hỏi han chuyện công việc, chuyện thành phố; lời hỏi vay có vẻ ngẫu nhiên (thấy chánh án đánh rơi tiền mới hỏi).
- Với kiểm học, hắn đã tự tin, suồng sã hẳn: mời xì gà, trêu chọc chuyện phụ nữ “tóc đen hay tóc vàng”, khoe “không một cô ả nào có thể cưỡng lại cặp mắt của tôi”, ép người ta phải trả lời, rồi vào thẳng chuyện vay ba trăm rúp với đúng cái cớ đã dùng.
- Sự thay đổi cho thấy hắn đã quen với vai được kính nể, càng lúc càng lấn tới; thấy đối phương run sợ thì càng ra oai, trơ tráo.
Câu 5: “Hối lộ” là gì? Khle-xta-kốp có coi số tiền nhận được là hối lộ không? (trang 134)
Suy luận: “Hối lộ” là gì? Khle-xta-kốp có coi số tiền y nhận được là “nhận hối lộ” không?
Trả lời:
- Hối lộ là đưa tiền, tài sản hoặc lợi ích khác cho người có chức vụ, quyền hạn để người đó làm hoặc không làm một việc theo ý người đưa, thường là để che giấu sai phạm hay đạt lợi ích bất chính.
- Khle-xta-kốp không coi đó là nhận hối lộ. Hắn luôn gọi là “vay”, viện cớ dọc đường hết tiền, hứa về quê sẽ gửi trả, và nghĩ các quan chức là người “tốt bụng”. Đến lớp 9, hắn còn tuyên bố mình sẽ “không nhận một thứ hối lộ gì” nhưng vẫn nhận lễ vật và vay thêm tiền.
- Thực chất, với người đưa, đó là tiền hối lộ để mua sự bỏ qua của “quan thanh tra”; với Khle-xta-kốp, đó là tiền lừa được nhờ sự nhầm lẫn. Cái tên “vay” chỉ là tấm màn che cho cả hai phía.
Suy ngẫm và phản hồi
Câu 1: Tóm tắt sự kiện chính, xác định tình huống kịch (trang 134)
Tóm tắt các sự kiện chính trong văn bản Màn diễu hành – trình diện quan thanh tra. Từ đó xác định tình huống kịch và cho biết đó có phải là tình huống đặc trưng của hài kịch không? Vì sao?
Trả lời:
Các sự kiện chính:
- Các quan chức mặc lễ phục rón rén vào nhà thị trưởng, bàn nhau đưa tiền cho “quan thanh tra” và thống nhất vào gặp từng người một.
- Khle-xta-kốp ngủ dậy, khoan khoái vì được tiếp đãi.
- Chánh án vào trình diện, run rẩy đánh rơi xấp tiền; hắn hỏi vay luôn số tiền ấy.
- Trưởng bưu cục, kiểm học, quản lí Viện tế bần lần lượt vào, đều bị hỏi vay; quản lí Viện tế bần còn tố cáo các đồng liêu.
- Hai viên địa chủ góp được sáu mươi lăm rúp, hắn vui vẻ nhận.
- Còn lại một mình, hắn đếm được hơn một nghìn rúp, nhận ra mình bị tưởng là chính khách.
- Hắn nhập vai quan lớn, tiếp các nhà buôn đến khiếu nại thị trưởng, nhận lễ vật và vay thêm tiền.
Tình huống kịch: các quan chức có tật giật mình nhầm một viên chức nhỏ rỗng túi là quan thanh tra, nên lần lượt vào “trình diện” và hối lộ dưới danh nghĩa cho vay; còn kẻ nhận tiền lúc đầu không hề biết mình bị nhầm.
Đây là tình huống đặc trưng của hài kịch, vì:
- Tình huống được xây dựng trên sự nhầm lẫn, vênh lệch giữa thực chất và vẻ ngoài – cơ chế cơ bản tạo tiếng cười.
- Nó buộc các nhân vật tự phơi bày thói xấu (hèn nhát, đút lót, xu nịnh, tố cáo nhau) qua chính hành động của mình.
- Tiếng cười nảy sinh liên tục qua sự lặp lại có biến hóa của từng lượt trình diện và hướng tới mục đích phê phán xã hội.
Câu 2: Độc thoại (lời nói riêng) – thủ pháp tự lật tẩy bản chất nhân vật (trang 134)
Hình thức độc thoại (nói riêng) được xem là thủ pháp tự lật tẩy bản chất của nhân vật. Dựa vào bảng mẫu (ví dụ về chánh án), hãy nêu thêm một số ví dụ.
Trả lời:
| Nhân vật | Độc thoại (lời nói riêng) | Bản chất của nhân vật |
|---|---|---|
| Chánh án | “Trời ơi, tôi bị đưa ra toà rồi.”; “Thôi, thế là thoát nạn rồi!” | Có tật giật mình, hèn nhát; coi việc đút lót trót lọt là thoát tội. |
| Trưởng bưu cục | “Thế mà Ngài không làm bộ chút nào; Ngài hỏi han mọi chuyện từng li từng tí.” | Xu nịnh, sợ bị soi xét công việc mà mình vốn bê trễ; hạ mình trước quyền lực. |
| Kiểm học | “Chết thật, không biết nói năng làm sao…”; “Có lẽ Ngài không đến kiểm tra trường học nữa.” | Khiếp nhược, nói năng lúng túng; chỉ lo trường học của mình khỏi bị kiểm tra. |
| Khle-xta-kốp | “Kì quái, hình như bọn họ cho mình là một chính khách.”; “Thật là một lũ ngu như bò!” | Khôn lỏi, trơ tráo; nhận ra sự nhầm lẫn liền lợi dụng, khinh bỉ chính những người vừa đưa tiền cho mình. |
Câu 3: Xung đột kịch trong văn bản và ý nghĩa của nó (trang 135)
Trả lời:
- Xung đột bề mặt: giữa đám quan chức thị trấn (sợ bị thanh tra) với “quan thanh tra” Khle-xta-kốp. Họ vừa sợ, vừa tìm mọi cách mua chuộc.
- Xung đột bên trong: giữa bản chất tham nhũng, bê trễ của bộ máy quan lại với vẻ ngoài mẫu mực, nghiêm chỉnh mà họ cố dựng lên (lễ phục, tư thế nhà binh, tay để trên chuôi kiếm). Ngoài ra còn là xung đột ngay trong nội bộ bọn quan chức: đùn đẩy nhau, tố cáo nhau để lập công.
- Ý nghĩa: xung đột dựa trên sự nhầm lẫn khiến mọi cố gắng của họ thành trò hề: càng muốn che giấu thì càng tự lộ ra. Qua đó, Gô-gôn vạch trần sự thối nát có tính hệ thống của bộ máy quan liêu Nga dưới chế độ Sa hoàng, nơi hối lộ trở thành phản xạ tự nhiên.
Câu 4: Một số thủ pháp trào phúng của Gô-gôn trong đoạn trích (trang 135)
Trả lời:
- Tình huống nhầm lẫn: nền tảng tạo ra toàn bộ màn trình diện.
- Lặp lại có biến hóa: mỗi quan chức đều vào với cùng một lời giới thiệu trịnh trọng, cùng tư thế tay để trên chuôi kiếm; Khle-xta-kốp lặp lại cùng một cái cớ hết tiền dọc đường, số tiền tăng dần. Sự lặp lại làm lộ tính máy móc, rập khuôn của cả bộ máy.
- Lời nói riêng tự lật tẩy bản chất nhân vật (như bảng ở câu 2).
- Tương phản: dáng vẻ oai nghiêm của quan chức đối lập với sự run rẩy, lúng túng; lời tuyên bố không nhận hối lộ đối lập với việc vui vẻ nhận lễ vật.
- Chỉ dẫn sân khấu gây cười: “rón rén, gần như kiễng gót đi vào”; chánh án “đánh rơi xấp tiền giấy xuống sàn”; cả bọn chen chúc chạy ra cửa.
- Lời mỉa mai, nghịch lí: việc đút lót được gọi là cách làm của “một xã hội được tổ chức tốt”.
Câu 5: Tiếng cười sảng khoái và dư vị buồn bã, chua chát của vở kịch (trang 135)
Vở kịch Quan thanh tra vang lên tiếng cười sảng khoái vui nhộn nhưng cũng chứa dư vị buồn bã chua chát, cảnh báo sự trừng phạt, khiến người ta suy ngẫm và ăn năn. Bạn hãy chỉ ra điều đó.
Trả lời:
- Tiếng cười sảng khoái: cảnh các quan rón rén kiễng gót, chen nhau chạy ra cửa; chánh án đánh rơi tiền; kiểm học lắp bắp gọi “quan lớn… cụ lớn”; quản lí Viện tế bần thì thầm tố cáo từng đồng liêu; Khle-xta-kốp ngồi đếm tiền, chê tờ giấy bạc cáu ghét.
- Dư vị buồn bã, chua chát: đằng sau tiếng cười là một bộ máy mà ai cũng sẵn sàng đút lót, bán đứng nhau; người dân (các nhà buôn) bị nhũng nhiễu đến mức phải đem đơn kêu với một kẻ lừa đảo. Cái xấu đã thành nếp, thành chuyện bình thường.
- Cảnh báo sự trừng phạt: Khle-xta-kốp định viết thư cho người bạn chuyên viết báo để đưa chuyện này lên báo; và theo mạch vở kịch, quan thanh tra thật sẽ đến. Tội lỗi sớm muộn sẽ bị phơi bày.
- Khiến người ta suy ngẫm: người xem cười những nhân vật trên sân khấu nhưng rồi nhận ra thói xu nịnh, đối phó, hám lợi cũng có thể có trong chính mình; tiếng cười vì thế thành lời tự vấn.
Câu 6: Tệ nạn, thói hư tật xấu bị Gô-gôn phê phán; có phải chỉ xảy ra ở nước Nga xưa? (trang 135)
Trong văn bản, Gô-gôn phê phán những tệ nạn xã hội, thói hư tật xấu nào? Phải chăng những hiện tượng ấy chỉ xảy ra tại một thị trấn nhỏ nước Nga thời xa xưa?
Trả lời:
- Tệ nạn, thói xấu bị phê phán:
- Hối lộ, đút lót, mua chuộc người có quyền.
- Bê trễ, lạm dụng chức vụ: chánh án chỉ lo “đi săn thỏ, nuôi chó ở chỗ làm việc”, bưu cục để thư từ chậm trễ.
- Nói xấu, tố cáo đồng liêu để lập công.
- Xu nịnh, khúm núm, sợ quyền lực; tâm lí đối phó với thanh tra, kiểm tra.
- Thói lừa đảo, lợi dụng của Khle-xta-kốp.
- Không chỉ ở một thị trấn Nga xưa: những hiện tượng như lót tay, chạy chọt, làm đẹp hồ sơ khi có đoàn kiểm tra, lợi dụng danh nghĩa cán bộ để lừa đảo vẫn còn xuất hiện ở nhiều nơi hôm nay. Chính vì vậy, vở kịch viết từ năm 1836 vẫn giữ nguyên tính thời sự và vẫn được dàn dựng khắp thế giới.
Câu 7: Có thể đổi nhan đề thành “Quan thanh tra giả” không? (trang 135)
Theo bạn, có thể thay nhan đề Quan thanh tra bằng nhan đề Quan thanh tra giả được không? Vì sao trong mỗi con người chúng ta cần có một “quan thanh tra thật”?
Trả lời:
- Không nên thay, vì:
- Thêm chữ “giả” sẽ lộ ngay nút thắt, làm mất sự bất ngờ và tiếng cười của tình huống nhầm lẫn.
- Trong mắt các quan chức, hắn chính là quan thanh tra; nhan đề giữ đúng điểm nhìn của họ, và càng tin thì họ càng lố bịch.
- Nhan đề Quan thanh tra đa nghĩa: vừa chỉ kẻ bị nhầm, vừa chỉ quan thanh tra thật xuất hiện cuối vở, vừa gợi đến sự phán xét của lương tâm và dư luận mà cái xấu không thể trốn tránh.
- Mỗi người cần một “quan thanh tra thật” – đó là lương tâm, sự tự giám sát bản thân. Có nó, ta sống ngay thẳng cả khi không ai kiểm tra, không phải lo đối phó hay che giấu; ta cũng tự phát hiện và sửa lỗi của mình trước khi người khác phải vạch ra.
Bài tập sáng tạo
Câu 1: Chọn một lớp kịch để nhập vai (trang 135)
Hãy chọn một lớp kịch trong văn bản Màn diễu hành – trình diện quan thanh tra để vào vai (một/các nhân vật) và biểu đạt theo cảm nhận của mình.
Gợi ý thực hiện (chọn lớp 3 – Khle-xta-kốp và viên chánh án):
- Phân vai: một bạn đóng chánh án, một bạn đóng Khle-xta-kốp; có thể thêm một bạn đọc chỉ dẫn sân khấu.
- Đạo cụ: một chiếc ghế, một xấp giấy giả làm tiền, một thanh kiếm gỗ đeo bên hông chánh án.
- Chánh án: bước vào ưỡn ngực, giọng trịnh trọng khi giới thiệu; nhưng khi nói riêng thì quay mặt về phía khán giả, hạ giọng, run run. Lúc đánh rơi tiền phải thật luống cuống, chối quanh, đến khi tiền được nhận thì thở phào.
- Khle-xta-kốp: ngồi thoải mái, giọng ngạc nhiên hồn nhiên khi thấy tiền, hỏi vay tự nhiên như chuyện vặt; cuối lớp kịch nói câu khen chánh án tốt bụng với vẻ thật lòng để khán giả bật cười.
- Lưu ý: giữ nhịp nhanh, phân biệt rõ lời đối thoại và lời nói riêng; tránh diễn quá đà làm mất tính châm biếm.
Kết luận
Màn diễu hành – trình diện quan thanh tra là một trong những lớp kịch gây cười nhất của Gô-gôn: từng quan chức nối nhau vào “trình diện”, nối nhau móc hầu bao cho một kẻ rỗng túi. Tiếng cười ấy vạch trần căn bệnh hối lộ, xu nịnh của bộ máy quan liêu và vẫn còn nguyên giá trị cảnh tỉnh hôm nay.
Xem thêm: